Lá thư không toàn vẹn
Một buổi sáng se se lạnh trong tiết trời tháng 12 của Lào Cai, chúng tôi – những đoàn viên thanh niên của Chi đoàn Phòng Công tác chính trị, Công an tỉnh may mắn có dịp được nghe những câu chuyện xúc động của bác Nguyễn Xuân Hòa – người chiến sĩ bộ binh C10K9E66F10, Quân đoàn 3 Tây Nguyên, kể về những ngày khói lửa, những kỷ niệm mà bác không bao giờ quên trong kháng chiến chống Mỹ.
Bên ly trà ấm thơm nồng, ở cạnh con người ấy, gương mặt bác đã có nhiều nếp nhăn vì năm tháng, mái tóc đã có phần bạc phơ, nhưng ánh mắt ấy vẫn chất chứa sự kiên quyết của người lính bộ đội cụ Hồ, sống lên những câu chuyện một thời bão lửa…
Ngày ấy, chàng thanh niên Nguyễn Xuân Hòa mang trong mình nhiệt huyết của tuổi trẻ, với tinh thần cống hiến, sẵn sàng hi sinh vì Tổ quốc. Anh quyết định rời miền quê bao năm tháng gắn bó, xa mái nhà đầm ấm, rời đi sự bình yên, sẵn sàng nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, lên đường vào chiến trường miền Nam. Cũng như anh, biết bao người con của vùng đất Lào Cai - Yên Bái, vốn dĩ chỉ là những người thôn quê hiền lành, vì sự tàn độc của giặc ngoại xâm mà phải cầm cây súng đứng lên bảo vệ từng tấc đất, từng mái nhà của Tổ quốc.
Anh còn nhớ, trước lúc lên đường, mẹ anh xúc động bật khóc vì thương con nhưng không dám giữ vì con có lý tưởng của Tổ quốc, như cánh chim dám sống cho mục tiêu cao cả của mình. Mẹ dặn anh thường xuyên viết thư gửi về nhà, trong bom đạn loạn lạc, cắt đứt liên lạc cũng đồng nghĩa với hy sinh. Cha anh, người nông dân thuần chất, tuy cũng thương con nhưng là người mạnh mẽ, ông chỉ ôm anh một cái thật chặt rồi nói “con đi, bố đợi con chiến thắng trở về”, cố nén giọt nước mắt, đưa tiễn con lên đường…
Những ngày tháng trong chiến dịch, dù khó khăn đến đâu, anh cũng cố gắng viết thư về cho gia đình. Mỗi lần nhận thư hồi âm, người chiến sĩ trẻ ấy như tiếp thêm động lực chiến đấu. Có lá thư là nét chữ ân cần của mẹ, có lá thư chứa đựng lời hỏi han từ cha, có lá thư có cả nét chữ nhỏ nguệch ngoạc của hai đứa em, cũng có những lá thư bị nước mưa thấm làm nhòe chữ, khó khăn lắm anh mới đọc được. Nhưng tất cả, dù ít hay nhiều, đều báo gia đình luôn bình an, mong anh chiến thắng trở về.
Đầu những năm 1975, tình hình chiến trường miền Nam ngày càng trở lên khốc liệt, lúc này anh Hòa đang chiến đấu trên chiến trường tại Quận lỵ Đức Lập, Buôn Ma Thuột. Để thực hiện âm mưu chiếm Tây Nguyên thành căn cứ, vớt vát những thất bại thảm hại trên khắp các chiến trường, địch liên tục dùng hỏa lực mạnh tấn công trực diện hòng đẩy lùi các mũi tiến công của bộ đội ta. Trước sức ép đó, ban ngày quân quân ta tạm rút bảo toàn lực lượng, ban đêm dùng B40, ĐKZ, cối 61, 82 tấn công địch. Địch liên tục quần thảo bằng máy bay F4H, nó ném bom xuống dã man như mưa rào. Từ một chàng trai trẻ những ngày đầu, Hòa nay đã quen với súng cối, đạn pháo, bom mìn, gương mặt anh rắn rỏi, nhuốm màu khói lửa chiến tranh. Bạn bè anh, đồng đội anh…hy sinh nhiều lắm. Đã nhiều tháng nay, anh không còn nhận được thư từ gia đình. Nhưng chính anh cũng chắc mẩm, bản thân mình còn không có điều kiện gửi thư, chiến trường khốc liệt làm giao liên đứt đoạn, ban ngày ẩn trốn trong rừng, ban đêm ra chiến đấu, chính mình cũng không rõ chính xác ngày mai sẽ ở đâu thì làm sao có thể nhận được thư? Mặc dù vậy, nhưng sâu trong thâm tâm anh, vẫn còn có điều gì đó sốt ruột không yên.
Vào một buổi tối đầu xuân năm ấy, sau khi chống trả một đợt tập kích dã man của địch tại Khánh Dương, Tây Nguyên, anh lính trẻ Xuân Hòa rút vào trong hầm trú ẩn. Tuy không khí không rét buốt như ở miền Bắc, nhưng cái lạnh của Tây Nguyên là cái lạnh của đất, cái lạnh của rừng thiêng âm thầm len lỏi vào tâm hồn. Phía xa, đạn pháo vẫn ầm ầm rền vang, tiếng súng nổ lẻ tẻ như lời nhắc nhở rằng chiến tranh chưa có dấu hiệu kết thúc. Tiểu đội anh đã chiến đấu ba ngày đêm, kiên trì đẩy lùi từng đợt tấn công của địch, nhưng giờ đây, mệt mỏi và đói khát đang gặm nhấm từng chút từng chút một.
Người đồng đội gần anh nhất bẻ đôi cho anh một phần lương khô, miệng nói “ăn đi” nhưng ánh mắt vẫn liên tục cảnh giác nhìn phía xa, có lẽ thần kinh của anh cũng quá căng thẳng và mỏi mệt sau nhiều đêm thức trắng giằng co cùng địch. Bỗng có tiếng động, tiểu đội trưởng hô nhỏ: “Đồng chí Hòa có đây không? Có thư này!”. Anh xúc động bật dậy, chạy nhanh đến nhận lấy lá thư và không quên cảm ơn anh tiểu đội trưởng. Trong ánh lửa leo lắt, anh nhận ra bì thư đã bị cháy xém một phần nhỏ, làm mất đi địa chỉ của người nhận. Anh từ từ mở lá thư, từng nét chữ ngay ngắn, thẳng hàng được viết bằng mực đen hiện ra trước mắt. Lá thư cũng bị mất một phần, anh đọc thì nhận ra đây là lá thư của một người bố gửi cho con, sau những dòng ân cần hỏi han về tình hình sức khỏe, tình trạng chiến sự, anh chợt để ý những dòng cuối cùng:
“Còn một chuyện, bố nói để con biết mà giữ bình tĩnh, mẹ con mắc bệnh phổi nặng gần 8 tháng nay, cả nhà đưa đi chữa nhưng không được, mẹ đã bỏ bố con mình mà đi rồi con ơi!!!
Nhưng bố viết cho con không phải để giục con về, mày còn nhiệm vụ chiến đấu Tổ quốc giao, khi nào được đơn vị giải quyết cho về nhà thì thắp hương cho mẹ”.
Tiếng sét như nổ ra trong đầu anh, hai hàng lệ tự động chảy dài trên gương mặt. Tay anh run run ghì chặt lá thư, một cảm giác đau đớn, buồn bã, thương xót dâng trào trong lồng ngực. Anh đã linh cảm điều chẳng lành từ khi bắt đầu đọc lá thư, mọi câu chữ đều nghiêm túc, chọn lọc chứ không có sự vui vẻ như trước. Trong giây lát, Hòa tự nhủ mình nhất quyết phải về, dù bất cứ giá nào cũng phải nhìn mẹ lần cuối.
Nhưng nhiệm vụ chắn giữ vẫn còn đây, đồng đội cần anh, Tổ quốc cần anh, anh làm sao cũng không thể trở về ngay được. Anh như không tin vào mắt mình, lật giở lại lá thư đọc lại lần nữa, anh bỗng nhận ra một vài điều kỳ lạ. Tại phần ký tên “Hồi âm, bố Thành”. Nhưng cha anh là Nguyễn Văn Sự, không phải tên Thành. Ngoài ra, nét chữ cũng có phần lạ lẫm so với bố anh.
Anh đưa lá thư lại gần ánh lửa, trong lòng dâng lên hi vọng, có lẽ lá thư này không phải là của mình. Anh gặng đọc lại lần nữa thì nhận ra đây đúng là một lá thư gửi cho người cùng tên là Hòa, nhưng không phải anh. Sau phút giây xúc động trôi qua, anh liền hỏi đồng đội xung quanh thì biết được ở tiểu đội khác cũng có một người thanh niên tên Hòa, chạc tuổi anh, và đây chính là lá thư gửi cho cậu ấy.
Anh thầm cảm thấy may mắn khi là thư này không phải của mình, rồi thấy chua xót khi biết rằng chính do chiến tranh đã khiến cho bao gia cảnh phải chia lìa. Và rồi trong lòng anh lại lại dấy lên sự lo lắng, trong giây phút quyết liệt của chiến tranh, chỉ một sự lơ là, mất tập trung có thể trả giá bằng cả tính mạng.
Anh đắn đo và cuối cùng đã đưa ra một quyết định táo bạo, anh đưa lá thư về gần ánh lửa, lợi dụng sức nóng đốt đi một phần cuối của lá thư, chỉ để lại phần ân cần hỏi an phía trên, anh đốt đi phần thông báo về cái chết của người mẹ.
Làm xong, anh gói lại lá thư không toàn vẹn vào bì thư vốn cũng nhem nhuốc vì khói lửa. Ngay ngày hôm sau, anh chủ động hỏi tiểu đội trưởng và liên hệ với người thanh niên cùng tên Hòa ấy. Anh biết rằng đồng chí Hòa kia là một người con của miền quê Thái Bình. Anh đã giải thích việc lá thư bị gửi nhầm địa chỉ, nói lý do bị mất một phần là do quá trình vận chuyển và mặc nhiên không kể về việc làm của mình. Đồng chí Hòa nhận được lá thư (và cũng như dự đoán), thở phào nhẹ nhõm vì nhận được thư sau nhiều tháng mất liên lạc, vì biết gia đình vẫn bình an. Đồng chí cảm ơn và trở về công tác.
Sau cái ngày đó, anh Hòa chủ động bắt chuyện, kết thân với đồng chí Hòa. Anh luôn dõi theo, cùng ăn, cùng nghỉ với đồng chí Hòa, chứng kiến đồng chí Hòa anh dũng, quả cảm trên chiến trường. Có lẽ, chính câu chuyện về lá thư đã trở thành gắn kết giữa hai người chiến sĩ trẻ. Nhưng mặc nhiên, anh vẫn không kể cho đồng chí Hòa câu chuyện về mẹ, giữa những ngày chiến sự càng khốc liệt, anh lo sợ cú sốc về tâm lý có thể làm anh mất đi một người đồng chí, một người em thân thiết.
Sau ngày giải phóng Khánh Dương, quân ta đánh tiếp Sân Bay Dục Mỹ, Nha Trang. Anh và đồng chí Hòa cũng chia tay mỗi người một ngả, từ đó lá thư luôn là nỗi canh cánh trong lòng anh Hòa. Điều tiếc nuối lớn nhất của anh đến bây giờ là đã không có cơ hội để nói ra sự thật. Vì anh sợ, anh lo sợ mất thêm một đồng chí, đồng đội, cũng day dứt vì chưa có cơ hội nói ra sự thật về lá thư ấy. Nhưng anh không hối hận.
Từ đó đến nay, mặc dù cố gắng tìm kiếm nhưng anh hoàn toàn mất liên lạc về đồng chí Hòa.
Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, anh Hòa trở về với vòng tay gia đình, anh vẫn luôn cảm thấy may mắn khi lá thư ấy không phải của anh. Đến nay, đã bao nhiêu năm trôi qua, người chiến sĩ Hòa ấy vẫn luôn dấy lên xót xa khi nhớ lại câu chuyện, lòng nặng trĩu bởi vì chiến tranh bom đạn, biết bao người phải xa gia đình, chia cắt tình thương, đến khi mất nhau vẫn không thể được nhìn mặt lần cuối.
Nhìn giọt nước mắt lăn trên má bác Hòa, trong lòng thế hệ trẻ chúng tôi càng thêm xúc động và tự hào: Có những câu chuyện chỉ có thể xảy ra trong khói lửa chiến tranh, cũng có những câu chuyện không thể xác định được là đúng hay sai, nhưng nó là một phần của lịch sử, thiếu nó sẽ không thể làm nên hiện tại. Chào tạm biệt bác Hòa, ra về mà trong lòng chúng tôi còn mãi dư vị của câu chuyện về một lá thư không toàn vẹn…


