Lá thư năm 1972 và ký ức một đời người lính
Giữa những ngày bom đạn khốc liệt của mùa hè năm 1972, khi sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang tấc, người lính trẻ Lê Văn Bát đã gặp một cô gái Quảng Trị. Một tình cảm trong trẻo, không kịp gọi tên đã nảy nở giữa chiến tranh, để rồi hơn nửa thế kỷ trôi qua vẫn nguyên vẹn trong ký ức người lính năm nào.

Năm 1972, khi mới 19 tuổi, chàng trai Lê Văn Bát, quen Hà Nội, khoác ba lô lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của Tổ quốc. Ông được biên chế vào Trung đoàn 102, Sư đoàn 308, một đơn vị chủ lực từng tham gia nhiều chiến dịch lớn.
Sau những tháng ngày hành quân, người lính trẻ có mặt tại chiến trường Bình - Trị - Thiên, nơi cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra vô cùng ác liệt. Và trong những ký ức không thể phai mờ của ông là 81 ngày đêm chiến đấu bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.
“Vừa qua tuổi 18, tôi nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc đã khoác ba lô nhập ngũ. Khi ấy, tôi còn rất trẻ, chưa hình dung được chiến trường sẽ khốc liệt đến thế”, ông Bát bồi hồi nhớ lại.
Sau này, ông mới biết mức độ khốc liệt của trận chiến mà mình từng trực tiếp trải qua. Trong 81 ngày đêm, khu vực Thành cổ Quảng Trị và thị xã Quảng Trị phải hứng chịu những trận mưa bom, bão đạn chưa từng có. Mỗi ngày, những người lính phải đối diện với hiểm nguy giữa một chiến trường mà bom đạn phủ kín cả mặt đất, dòng sông và những tuyến đường hành quân.
Trong ký ức của ông Bát, hình ảnh những người lính vượt sông Thạch Hãn giữa làn đạn pháo vẫn không thể nào phai mờ.
Biết bao người đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Có người chỉ vừa bước qua tuổi đôi mươi đã mãi mãi nằm lại trên mảnh đất Quảng Trị.
Nhắc đến những đồng đội năm xưa, ông xúc động đọc những câu thơ trong bài Lời người bên sông của nhà thơ Lê Bá Dương:
“Đò lên Thạch Hãn ơi chèo nhẹ
Đáy sông còn đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm…”
Những câu thơ dường như nói hộ nỗi lòng của những người lính trở về sau chiến tranh và những người đã mãi mãi nằm lại dưới dòng Thạch Hãn.
Một tình cảm không kịp gọi tên
Thế nhưng, trong ký ức của người cựu chiến binh Lê Văn Bát, Quảng Trị năm 1972 không chỉ có bom rơi, đạn nổ và những mất mát đau thương.
Giữa những ngày tháng khốc liệt ấy, ông đã có một kỷ niệm đặc biệt với một cô gái Quảng Trị. Một tình cảm rất đỗi trong trẻo, giản dị và cũng rất khó gọi thành tên.
Một lần được nghỉ vì không đến phiên gác, người lính trẻ Lê Văn Bát ở nhờ trong căn hầm trú ẩn của một gia đình chưa kịp di tản. Chiến tranh khiến cuộc sống của người dân đảo lộn. Hầm trú ẩn được gia đình tận dụng từ chính căn nhà của mình, thậm chí phải phá cả kèo nhà, hoành phi, câu đối để gia cố nơi tránh bom. Ánh sáng trong hầm chỉ le lói từ một chiếc ắc quy nhỏ.
Đêm ấy, ông đang ngủ cùng một cụ già thì bất chợt nhận ra có người nằm bên cạnh. Ban đầu, ông giật mình. Nhưng cụ già lên tiếng trấn an:
“Chú cứ nghỉ, đó là con gái của bọ. Nó đi học về, ngủ rồi chú không biết”.
Cô gái ấy tên Nguyễn Thị Như Hoa, khi đó đang học lớp 12.
Từ cuộc gặp gỡ tình cờ ấy, Như Hoa và người lính trẻ trở nên thân thiết. Giữa họ dần hình thành một tình cảm rất đặc biệt – không hẳn là tình bạn, cũng chưa kịp gọi thành tình yêu. Có lẽ đó là sự thương mến của hai người trẻ tuổi gặp nhau giữa những ngày chiến tranh, là tình cảm của cô gái dành cho người lính đang ngày đêm đối mặt với hiểm nguy.
“Chúng tôi rất thân thiết. Có những đêm trăng, chúng tôi men theo hào công sự đi chơi. Cô ấy nói rất nhiều chuyện nhưng chưa bao giờ dùng từ ‘yêu’. Có lần Hoa chỉ nói: ‘Em rất thương anh, người lính phải xa nhà…’. Những lời nói, hành động ấy tôi không bao giờ quên”, ông Bát kể.
Giữa tiếng bom đạn, những câu chuyện đời thường của cô gái tuổi mười tám, đôi mươi trở thành khoảng bình yên hiếm hoi trong đời người lính trẻ.
Có lẽ chính những tình cảm giản dị ấy đã giúp họ giữ được niềm tin và sự lạc quan giữa một thời đại mà ngày mai còn chưa biết sẽ ra sao.
Lá thư theo người lính suốt hơn nửa thế kỷ
Nhưng chiến tranh không cho những người trẻ quá nhiều thời gian.
Trong một lần chiến đấu, ông Bát bị thương. Đơn vị đưa ông rời khỏi chiến trường để về hậu phương điều trị.
Ngày chia tay, Như Hoa tiễn ông ra tận bến đò bên sông.
Cô gái trẻ khóc. Người lính trẻ cũng mang theo bao điều chưa kịp nói.
Trước lúc chia xa, Như Hoa dúi vào tay ông một lá thư. Lá thư ngắn, được viết như những câu thơ:
“Anh Bát mãi nhớ thương
Xa nhau để mãi sống gần
Xa nhau anh chớ ngần ngại chi
Nhớ thương, em ở anh đi
Đến khi trở lại anh vô với em, anh nhé…”
Một lời hẹn giản dị giữa chiến tranh.
Nhưng rồi chiến tranh cuốn mỗi người về một phía.
Sau ngày đất nước thống nhất, nhiều lần ông Bát tìm về La Giang, nơi gia đình Như Hoa từng sinh sống. Nhưng cảnh vật đã đổi thay. Xóm làng năm xưa không còn nguyên vẹn, những bãi rau muống, triền đồi và những con đường quen thuộc cũng đã khác.
Người con gái năm nào cũng không còn ai biết tin tức.
Ông không biết Như Hoa còn sống hay đã mất. Chiến tranh quá khốc liệt, những con người từng gặp nhau trong một khoảnh khắc của tuổi trẻ rồi cũng bị dòng đời cuốn đi.
Chỉ có lá thư nhỏ năm nào vẫn ở lại.
Ông Bát giữ nó suốt đời như một kỷ vật thiêng liêng của tuổi trẻ và những năm tháng chiến tranh.
Ký ức không phai theo năm tháng
Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua. Người lính trẻ Lê Văn Bát năm nào nay đã trở thành một cựu chiến binh tóc bạc. Những trận đánh, những đồng đội đã hy sinh, dòng Thạch Hãn và cô gái tên Như Hoa vẫn nằm trong miền ký ức sâu thẳm của ông.
Có thể tình cảm năm ấy chưa bao giờ có một cái tên trọn vẹn. Nhưng chính sự dang dở ấy lại khiến nó trở thành một phần ký ức không thể thay thế.
Giữa chiến tranh, khi con người phải đối diện với mất mát mỗi ngày, những rung cảm đẹp đẽ của tuổi trẻ vẫn không bị bom đạn dập tắt. Một ánh mắt, một câu nói, một lần tiễn nhau bên bến đò hay một lá thư viết vội cũng đủ trở thành điểm tựa tinh thần để người lính bước tiếp.
Và có lẽ, đó cũng là một vẻ đẹp rất riêng của những năm tháng chiến tranh: giữa sự khốc liệt của bom đạn vẫn tồn tại tình người, tình quê hương và những tình cảm trong trẻo của tuổi trẻ.
Lá thư của Như Hoa đã theo ông Bát qua hơn nửa thế kỷ. Người viết thư giờ ở đâu, cuộc đời sau đó ra sao, ông không biết. Nhưng những dòng chữ năm nào vẫn còn đó, như một lời nhắc rằng giữa mùa hè đỏ lửa năm 1972, đã từng có một tình cảm rất đẹp được gieo xuống mảnh đất Quảng Trị.
Một tình cảm không kịp thành lời, nhưng đủ sức sống cùng ký ức của một đời người.


