La Văn Cầu Khúc tráng ca về ý chí thép và cánh tay huyền thoại
La Văn Cầu - Khúc tráng ca về ý chí thép và cánh tay huyền thoại

Trong suốt chiều dài lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, có những tấm gương anh hùng đã trở thành biểu tượng bất diệt cho tinh thần "Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh". Một trong những tượng đài sống động nhất, người đã viết nên trang sử hào hùng bằng chính máu thịt của mình, chính là Đại tá, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân La Văn Cầu.
Anh hùng La Văn Cầu tên thật là Sầm Phúc Hưởng, sinh năm 1932 tại xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Là người con của đồng bào dân tộc Tày nơi miền biên viễn, tuổi thơ của ông không được êm đềm như bao đứa trẻ khác. Ông sớm phải chứng kiến cảnh tượng đau lòng khi người cha thân yêu bị thực dân Pháp bắt bớ, bóc lột và đánh đập dã man đến kiệt sức rồi qua đời.
Chính nỗi đau mồ côi và cảnh lầm than của quê hương dưới gót giày xâm lược đã hun đúc trong lòng cậu bé Hưởng một lòng căm thù giặc sâu sắc và ý chí cách mạng sục sôi. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ánh sáng lý tưởng đã soi rọi con đường cho ông. Năm 1948, dù mới 16 tuổi, ông đã chủ động khai tăng lên 18 tuổi để đủ điều kiện tình nguyện nhập ngũ, quyết tâm lên đường trả nợ nước, thù nhà. Để bảo vệ gia đình và giữ bí mật tung tích khi hoạt động, ông đã cải sang họ mẹ và lấy tên chiến đấu là La Văn Cầu, được biên chế vào Trung đoàn 174.
Năm 1950, Chiến dịch Biên giới Thu - Đông (Chiến dịch Lê Hồng Phong 2) mở màn với mục tiêu đập tan hành lang Đông - Tây của Pháp. Cụm cứ điểm Đông Khê trên Đường số 4 được chọn làm trận đánh mở màn vì đây là "mắt xích" then chốt, được quân Pháp trang bị hệ thống đồn bốt bê tông cốt thép và hỏa lực cực mạnh.
Đêm ngày 17 tháng 9 năm 1950, trận đánh bước vào giai đoạn quyết định nhất. La Văn Cầu, lúc này là Tiểu đội phó Trung đội bộc phá, cùng tổ của mình nhận nhiệm vụ cảm tử: đánh sập lô cốt đầu cầu – lá chắn kiên cố nhất cản bước đại quân ta. Giữa làn mưa bom bão đạn, tổ bộc phá bị tổn thất nặng nề: hai đồng đội hy sinh, hai người bị thương nặng. Bản thân La Văn Cầu bị mảnh đạn bắn trúng má, găm vào sườn và một loạt đạn đã bắn dập nát cánh tay phải.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Khi tỉnh lại sau cơn ngất vì mất máu, ông thấy cánh tay phải gãy nát vướng víu vào dây kẽm gai, cản trở việc di chuyển. Trong giây phút sinh tử, lo sợ thời cơ tấn công sẽ trôi qua, ông đã đưa ra một quyết định khiến ai nấy đều bàng hoàng. Ông quay sang đồng đội Nông Văn Thêu và kiên quyết yêu cầu: "Cậu chặt hộ tớ cánh tay này đi để tớ ôm bộc phá đánh tiếp!". Trước sự thúc giục mãnh liệt, người đồng đội đã nén nước mắt, dùng chiếc lưỡi lê chặt đứt lìa phần cánh tay phải cho ông.
Sau khi được băng bó sơ qua, với cánh tay trái còn lại, La Văn Cầu đã thực hiện một kỳ tích: ông ghì chặt khối bộc phá nặng 12kg, dùng chân và sức người trườn lên áp sát mục tiêu. Tiếng nổ vang trời từ khối bộc phá của ông không chỉ phá tan lô cốt địch mà còn mở toang "cánh cửa thép" cho Trung đoàn 174 ào ạt xông lên, tiêu diệt gọn cứ điểm Đông Khê vào sáng ngày 18/9/1950. Hành động chặt tay phá đồn ấy đã trở thành một cú hích tinh thần cực lớn, làm nức lòng chiến sĩ toàn mặt trận.
Với những cống hiến phi thường, năm 1952, La Văn Cầu vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tuyên dương và phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân trong đợt đầu tiên. Dù là thương binh hạng 1/4, ông vẫn kiên trì học tập, tốt nghiệp Tổng hợp Văn học và công tác tại các học viện quân sự. Ông giữ chức vụ Giám đốc Bảo tàng Tổng cục Chính trị và nghỉ hưu năm 1996 với quân hàm Đại tá.
Bên cạnh sự nghiệp lẫy lừng, ông có một tổ ấm hạnh phúc bên vợ là bà Nguyễn Thị Biển, một bác sĩ quân y. Đại tá La Văn Cầu là một trong số rất ít nhân vật lịch sử đặc biệt được đặt tên đường khi còn sống. Ngày 24 tháng 6 năm 2026, người anh hùng ấy đã thanh thản rời xa cõi tạm ở tuổi 94, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho đồng bào cả nước.
Cuộc đời của Anh hùng La Văn Cầu là minh chứng sống động cho bản lĩnh và khát vọng tự do của dân tộc Việt Nam. Cánh tay đã mất của ông không chỉ là dấu tích của chiến tranh, mà là một "huân chương" vô hình về lòng quả cảm, mãi mãi soi sáng cho thế hệ trẻ về ý chí vượt qua mọi nghịch cảnh để phụng sự Tổ quốc.


