La Văn Cầu - MỘT CÁNH TAY Ở ĐÔNG KHÊ VÀ KHỐI BỘC PHÁ MỞ ĐƯỜNG
Tháng 9 năm 1950, Chiến dịch Biên giới Thu – Đông bước vào giai đoạn quyết định. Cứ điểm Đông Khê thuộc tỉnh Cao Bằng là vị trí phòng thủ quan trọng của quân đội Pháp trên Đường số 4. Muốn phá vỡ hệ thống phòng ngự này, bộ đội ta phải đánh chiếm các lô cốt, mở đường cho lực lượng xung kích tiến lên.
Trong đội hình chiến đấu tại Đông Khê có chiến sĩ La Văn Cầu, người dân tộc Tày, sinh năm 1932 tại Cao Bằng. Xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, ông tình nguyện nhập ngũ năm 1948 khi mới 16 tuổi. Sau những trận đánh trên chiến trường biên giới, người chiến sĩ trẻ được giao nhiệm vụ chỉ huy tổ bộc phá, trực tiếp mở cửa tiến công vào vị trí địch phòng thủ.
ĐÊM 17 THÁNG 9 VÀ NHIỆM VỤ PHÁ LÔ CỐT ĐỊCH
Đêm ngày 17 tháng 9 năm 1950, La Văn Cầu cùng tổ bộc phá nhận nhiệm vụ đánh vào một lô cốt quan trọng tại cứ điểm Đông Khê. Khối bộc phá nặng khoảng 12 kg được mang theo để phá hủy công sự, mở đường cho bộ đội xung phong.
Trận đánh diễn ra quyết liệt. Hỏa lực từ lô cốt địch liên tục bắn ra. Các chiến sĩ trong tổ lần lượt hy sinh hoặc bị thương. La Văn Cầu vẫn mang bộc phá tiến về phía mục tiêu.
Giữa lúc tiếp cận vị trí địch, ông trúng hai viên đạn. Một viên xuyên qua má phải, viên còn lại làm dập nát cánh tay phải. Ông ngất đi giữa trận địa.
Khi tỉnh lại, La Văn Cầu nhận ra cánh tay phải đã mất cảm giác, buông thõng bên người. Phần tay bị thương vướng vào hàng rào dây thép gai, khiến việc di chuyển càng khó khăn. Khối bộc phá vẫn chưa được đưa đến mục tiêu.
Nhớ lại tình huống ấy, ông từng kể: “Cánh tay bị thương cứ lủng lẳng vướng vào dây thép gai, đau hơn cả lúc trúng đạn. Tôi nghĩ đằng nào cũng bị thương rồi, nhiệm vụ còn đó, thà chặt luôn cánh tay cho đỡ vướng để tiếp tục chiến đấu”.
Không thể tiếp tục mang bộc phá với cánh tay bị dập nát, La Văn Cầu nhờ đồng đội dùng dao chặt bỏ phần tay bị thương. Ông nghiến chặt chiếc khăn mùi xoa trong miệng để chịu đau. Sau khi được băng bó tạm thời, ông tiếp tục ôm khối bộc phá bằng tay trái, tiến về lô cốt.
Tiếp cận được công sự địch, La Văn Cầu đưa khối bộc phá vào lỗ châu mai. Quân Pháp bên trong dùng súng đẩy khối bộc phá ra ngoài.
Chỉ còn một cánh tay, ông dùng chân đạp khối bộc phá trở lại vị trí, giật hai kíp nổ rồi nhanh chóng lao xuống chiến hào.
Một tiếng nổ lớn vang lên. Sức ép hất ông văng ra xa và khiến ông bất tỉnh. Khi tỉnh lại, La Văn Cầu nhìn thấy lô cốt đã bị phá hủy, bộ đội ta đang tiến lên chiếm lĩnh trận địa.
Nhiệm vụ mở đường cho đơn vị tiến công đã hoàn thành. Sau trận đánh, La Văn Cầu được đưa về tuyến sau cấp cứu. Do vết thương quá nặng, ông phải cắt bỏ phần tay đến khớp vai. Chiến thắng Đông Khê ngày 18 tháng 9 năm 1950, sau 54 giờ chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển tiếp theo của toàn Chiến dịch Biên giới.
Mất cánh tay phải không đồng nghĩa với việc chấm dứt quá trình phục vụ quân đội. La Văn Cầu kiên trì tập luyện trong ba tháng để sử dụng thành thạo tay trái, kể cả việc bắn súng. Năm 1952, ông là một trong bảy chiến sĩ đầu tiên được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Câu chuyện tại Đông Khê không chỉ nằm ở quyết định tiếp tục chiến đấu sau khi bị thương. Điểm cốt lõi là La Văn Cầu hiểu rõ nhiệm vụ mình được giao và tìm cách hoàn thành nhiệm vụ ấy trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Khi không thể tiếp tục bằng cách cũ, ông chủ động thay đổi cách thực hiện để đạt mục tiêu chung.
Đối với đoàn viên, thanh niên tại khu phố hôm nay, hoàn cảnh đã khác. Không còn những trận đánh dưới làn đạn, nhưng công việc chung vẫn cần người chủ động và có trách nhiệm. Một buổi ra quân vệ sinh tuyến hẻm, một hoạt động hỗ trợ người dân, hay một chương trình dành cho thiếu nhi đều có thể bị ảnh hưởng nếu đoàn viên nhận việc rồi bỏ dở, đến muộn hoặc chỉ tham gia để chụp ảnh đăng mạng xã hội.
Học tinh thần của La Văn Cầu không có nghĩa là xem nhẹ sức khỏe hay bất chấp mọi giới hạn của bản thân. Bài học thiết thực là đã nhận nhiệm vụ thì phải có trách nhiệm với kết quả cuối cùng. Mỗi đoàn viên cần chủ động chuẩn bị trước khi thực hiện công việc, báo cáo kịp thời khi gặp trở ngại, phối hợp với đồng đội và tìm phương án thay thế khi kế hoạch ban đầu không hiệu quả.
Sự đóng góp của người trẻ không nhất thiết phải bắt đầu từ những việc lớn. Nó bắt đầu từ việc có mặt đúng giờ, làm trọn phần việc được phân công, hỗ trợ người đang gặp khó khăn và không để tập thể phải hoàn thành thay phần trách nhiệm của mình. Đó là cách thiết thực để biến tinh thần trách nhiệm của người chiến sĩ năm xưa thành hành động cụ thể trong đời sống khu phố hôm nay.



