LA VĂN CẦU – NGƯỜI CHIẾN SĨ QUẢ CẢM NƠI CHIẾN TRƯỜNG BIÊN GIỚI
Nguyễn Thu Thủy

LA VĂN CẦU – NGƯỜI CHIẾN SĨ QUẢ CẢM NƠI CHIẾN TRƯỜNG BIÊN GIỚI
Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp, đã có biết bao người lính trẻ vượt qua gian khổ, hiểm nguy để chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. La Văn Cầu là một trong những người lính tiêu biểu của thế hệ ấy.
La Văn Cầu sinh năm 1932, là người dân tộc Tày, quê ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Năm 1948, khi còn rất trẻ, ông tình nguyện nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội 671, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316. Từ những năm đầu trong quân ngũ, ông đã cùng đồng đội tham gia nhiều trận đánh và từng bước trưởng thành trong chiến đấu.

Năm 1950, quân ta mở Chiến dịch Biên giới Thu - Đông nhằm phá thế bao vây, khai thông biên giới Việt - Trung, mở rộng căn cứ địa Việt Bắc và tạo điều kiện đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sang một giai đoạn phát triển mới.
Trong chiến dịch này, La Văn Cầu là Tiểu đội phó, thuộc Trung đội 2, Đại đội 671, Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174.
Trận Đông Khê là một trong những trận đánh quan trọng mở màn Chiến dịch Biên giới. Cuộc tiến công bắt đầu từ ngày 16/9/1950 và diễn ra vô cùng ác liệt. Sau những đợt tiến công đầu tiên, quân ta tiếp tục củng cố lực lượng và mở đợt tiến công mới vào trung tâm cứ điểm.
Ngày 17/9/1950, trong đợt tiến công vào Đông Khê, La Văn Cầu được giao nhiệm vụ chỉ huy một tổ bộc phá đánh vào lô cốt của địch, phá hàng rào và mở đường cho bộ đội xung phong.
Trận đánh diễn ra quyết liệt. Trong quá trình chiến đấu, nhiều đồng đội của ông hy sinh hoặc bị thương. La Văn Cầu cũng bị đạn địch bắn trúng, làm cánh tay phải bị gãy nát. Vết thương rất nặng khiến cánh tay gần như không còn khả năng sử dụng.
Nhưng ông không rời khỏi trận địa.
Nhận thấy cánh tay bị thương đang cản trở việc tiếp tục chiến đấu, La Văn Cầu nhờ đồng đội chặt bỏ phần cánh tay bị thương. Sau đó, bằng cánh tay trái, ông tiếp tục ôm khối bộc phá nặng khoảng 12kg, tiến về phía lô cốt địch.
La Văn Cầu áp sát mục tiêu, đặt bộc phá và kích nổ. Sức nổ phá hủy lô cốt, tạo điều kiện cho đồng đội tiếp tục xung phong và đánh chiếm trận địa. Sau đó, ông bị ngất đi và được đưa đi cứu chữa.
Vết thương của La Văn Cầu rất nặng. Do bị nhiễm trùng, đến chiều 18/9/1950, các bác sĩ buộc phải cắt phần cánh tay còn lại đến khớp vai.
Chiến thắng Đông Khê ngày 18/9/1950 có ý nghĩa quan trọng đối với Chiến dịch Biên giới. Trong trận đánh ấy, hành động chiến đấu của La Văn Cầu đã trở thành một trong những hình ảnh tiêu biểu cho tinh thần dũng cảm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.
Sau Chiến dịch Biên giới, La Văn Cầu được biểu dương là một trong những “lá cờ đầu trong phong trào giết giặc lập công”. Chiến công của ông cũng trở thành nguồn động viên đối với phong trào thi đua chiến đấu trong toàn quân.
Tháng 5/1952, tại Đại hội Chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất, La Văn Cầu được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và được tặng Huân chương Quân công hạng Ba.
Điều khiến câu chuyện về La Văn Cầu vẫn được nhắc nhớ sau nhiều năm không chỉ là hành động chiến đấu quả cảm. Đó còn là hình ảnh của một người lính trẻ đã đặt nhiệm vụ và đồng đội lên trên những đau đớn của bản thân.
La Văn Cầu khi ấy mới chỉ ở tuổi mười tám. Một tuổi đời mà ngày nay nhiều người vẫn đang ngồi trên ghế nhà trường, học tập và theo đuổi những ước mơ riêng.
Còn thế hệ của ông đã bước vào chiến trường khi đất nước đang trong những năm tháng gian nan nhất.
Hôm nay, chiến tranh đã lùi xa. Chúng ta không còn phải sống giữa những trận đánh hay tiếng bom đạn. Nhưng khi nhìn lại câu chuyện của La Văn Cầu, chúng ta càng hiểu rằng nền độc lập và hòa bình của đất nước được xây dựng từ sự hy sinh và lòng quả cảm của biết bao thế hệ.
Nhớ về người chiến sĩ La Văn Cầu không phải để ca ngợi chiến tranh, mà để trân trọng hòa bình.
Và hơn hết, để thế hệ trẻ hôm nay hiểu rằng tuổi trẻ dù ở bất kỳ thời đại nào cũng cần có lý tưởng, lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và tình yêu đối với quê hương, đất nước.



