LA VĂN CẦU – TRÁI TIM CÒN ĐẬP, CÒN CHIẾN ĐẤU
La Văn Cầu (1932 – 24 tháng 6 năm 2026) là một Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam, hàm Đại tá. Ông là một trong bảy người đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân tại Đại hội chiến sĩ thi đua toàn quốc lần I. Ông nguyên là Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngay khi còn sống, La Văn Cầu đã được đặt tên cho trường học và đường phố ở Việt Nam.

Tuổi trẻ nơi miền biên giới
La Văn Cầu là người dân tộc Tày, quê ở xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông tham gia các hoạt động tại địa phương và học lớp bình dân học vụ. Trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng quyết liệt, tinh thần yêu nước và mong muốn được trực tiếp bảo vệ quê hương đã thôi thúc chàng trai trẻ tình nguyện nhập ngũ.
Năm 1948, La Văn Cầu gia nhập Đại đội 671, Trung đoàn 174. Từ đây, ông bắt đầu những năm tháng quân ngũ và tham gia nhiều trận chiến. Theo tư liệu của Báo Quân đội nhân dân, ông đã tham gia tổng cộng 29 trận đánh lớn nhỏ trong quá trình chiến đấu.
Những trận đánh đầu tiên
Ngay khi còn rất trẻ, La Văn Cầu đã thể hiện sự gan dạ và tinh thần chủ động trong chiến đấu. Trong một trận phục kích trên Đường số 4 tại khu vực Bông Lau – Lũng Phầy, ông tình nguyện tham gia tổ xung kích và lập chiến công. Những trải nghiệm trên chiến trường giúp người chiến sĩ trẻ ngày càng trưởng thành.
Năm 1950, quân ta chuẩn bị mở Chiến dịch Biên giới Thu – Đông nhằm phá thế bao vây, cô lập của quân Pháp, khai thông biên giới và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc. Đông Khê là một cứ điểm quan trọng trên tuyến Đường số 4. Trận đánh tại đây trở thành dấu mốc làm nên tên tuổi La Văn Cầu.
Chùm ảnh tư liệu

Ảnh tư liệu của bài viết.
Trận Đông Khê – khoảnh khắc thử thách ý chí
Ngày 17-9-1950, La Văn Cầu được giao nhiệm vụ chỉ huy tổ bộc phá gồm 5 chiến sĩ, tiến công một lô cốt quan trọng của địch. Trong quá trình chiến đấu, các thành viên trong tổ lần lượt hy sinh hoặc bị thương. La Văn Cầu vẫn tiếp tục tiến lên với khối bộc phá.
Khi đến gần mục tiêu, ông bị hỏa lực của đối phương làm bị thương rất nặng ở cánh tay phải. Trong tình huống đó, ông vẫn đặt nhiệm vụ chung lên trên nỗi đau của bản thân. Đồng đội đã hỗ trợ ông xử lý phần cánh tay bị thương, sau đó ông tiếp tục tiến về phía lô cốt. Với cánh tay còn lại, ông mang khối bộc phá đến mục tiêu và phá hủy lô cốt, góp phần mở đường cho đồng đội tiến công.
Đây là phần nổi tiếng nhất trong câu chuyện về La Văn Cầu. Tuy nhiên, khi kể lại sự kiện, điều đáng chú ý không nên chỉ là mức độ khốc liệt của chiến tranh, mà là tinh thần trách nhiệm của một người lính: trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, ông vẫn cố gắng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Sau chiến thắng
Chiến dịch Biên giới Thu – Đông năm 1950 kéo dài 29 ngày đêm và giành thắng lợi quan trọng, tạo bước chuyển lớn cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đối với La Văn Cầu, trận Đông Khê trở thành dấu mốc không thể quên trong cuộc đời.
Năm 1951, ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại căn cứ địa Việt Bắc để báo cáo thành tích. Đến tháng 5-1952, La Văn Cầu được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau chiến tranh, ông tiếp tục công tác trong quân đội và nghỉ hưu với quân hàm Đại tá.
Ý nghĩa
Cuộc đời ông La Văn Cầu gắn với một thế hệ tuổi trẻ trưởng thành giữa chiến tranh. Điều câu chuyện để lại cho thế hệ hôm nay không phải là sự ca ngợi chiến tranh hay những mất mát, mà là sự trân trọng đối với những con người đã sống trong một thời đại đầy thử thách và lựa chọn trách nhiệm với đất nước. Câu chuyện về La Văn Cầu cũng nhắc chúng ta rằng hòa bình không phải điều tự nhiên mà có. Mỗi thế hệ cần biết trân trọng những gì mình đang có và sống có trách nhiệm với cộng đồng.
Tên tuổi La Văn Cầu vì thế vẫn được nhắc đến như một biểu tượng của lòng dũng cảm, ý chí vượt khó và tinh thần trách nhiệm. “Trái tim còn đập, còn chiến đấu” trở thành một thông điệp giàu sức lay động về nghị lực của con người trước nghịch cảnh.



