Bài viết

LẠI NGHE, BÀN VỀ CHUYỆN HỌC

12/08/2026Phường Lâm Viên - Đà Lạt ((LĐ) Đoàn phường Lâm Viên - Đà Lạt)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chúng ta đang tiếp tục câu chuyện bắt đầu từ làng Sen. Chính vì câu chuyện bắt đầu từ làng Sen này mà chúng tôi tạm xa vùng Võ Liệt, xa đất Thanh Chương, nơi mà tưởng như mỗi người dân là một người viết sử ấy để đến làng Vạn Phần, một làng chiến đấu của cuộc khởi nghĩa Nguyễn Xuân Ôn ngày trước.

Lần theo những nẻo đường hai bên phơi đủ các loại lưới đi lộng, đi khơi và những lối nhà thơm mùi cá nướng, chúng tôi tìm đến nhà cụ Võ Mai1. Giọng cụ trầm trầm hòa trong sóng biển.

- Ông nội tôi, cụ Võ Tất Đắc là một Tri huyện cáo quan về dạy học.

Hôm cụ Bảng và cậu Cung đến, gia đình tôi vui hẳn lên. Hai cụ chuyện trò với nhau suốt cả buổi chiều.

___________

1. Sinh năm 1897, một đảng viên hoạt động lâu năm, đã từng sang dự lớp huấn luyện chính trị đặc biệt tại Quảng Châu (Trung Quốc) do Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trực tiếp giảng dạy.

Sau khi dạo, xem các cây cảnh ngoài vườn, cậu Cung nhìn kỹ lên gác sách và bảo tôi: “Em nói với cha cho anh mượn mấy cuốn sách này’’. Thế rồi, cậu ngồi đọc, đọc miết cho đến tận tối.

Đêm ấy, vì biết có cụ Sắc đến nên một số thân sĩ trong vùng kéo nhau lại chào mừng. Sáng sớm khi tôi thức dậy thì trong nhà đã vắng vẻ. Tôi chạy lại hỏi ông về người khách nhỏ tuổi đã coi tôi như bạn ấy. Ông cho biết:

- Đêm qua, các ông trò chuyện mãi. Cậu Cung cũng thức với khách. Đã mấy lần ông mời cậu đi nghỉ nhưng cậu cứ nán lại nghe. Ông nhận thấy, tiếp xúc chưa nhiều, nhưng cậu Cung là người làm cho ông chú ý. Ở cậu có hai cái mê: mê đọc sách và mê nghe chuyện. Thực ra, hai cái đó cũng là một. Nhất là với tuổi trẻ, đức tính ấy quý giá lắm. Cũng đêm qua, lúc đã lên giường nằm, cậu còn hỏi ý kiến cụ Bảng để xác nhận thêm câu mà mọi người vừa bàn bạc “Học cử tử là lối học chi diệp chi văn” (lối học để đi thi cho đậu là học những điều trên cành, trên lá). Từ đó, ông càng thấy là mình đã bất lực trước thời cuộc. Việc học của cháu ắt rồi phải để cho lớp người như cha cháu lo.

Món nợ văn chương và tiếng gọi tri kỷ đã có hiệu lực rút ngắn đường dài, nối những con người thanh khí. Ông Nguyễn Sinh Sắc vượt sông La và cậu Nguyễn Sinh Cung được đến với quê hương nhà ái quốc Phan Đình Phùng vì những lẽ đó.

Nam Đàn với Đức Thọ thật núi liền núi, sông liền sông. Bến Hạ, trong đó có làng Yên Hội của Bùi Dương Lịch và Đông Thái của Phan Đình Phùng cũng là đất học hành canh cửi.

Khởi nghĩa Hương Khê bị dập tắt đã mấy năm nhưng máu tanh của giặc như vẫn còn vương lại trên quê hương Nghệ - Tĩnh. Tội ác của chúng còn phơi bày khắp nơi, những làng xóm bị triệt hạ, những nghĩa quân chưa hết bị truy lùng bắt bớ, những nấm mồ của các liệt sĩ chưa được đặt yên. Dòng sông La có thi hài vị lãnh tụ Phan Đình Phùng bị đốt thành than hòa vào trong đó đang trào dâng dữ dội.

Cậu Cung về nghỉ ở xóm Đá, làng Du Đồng1. Muốn đến đó, cậu phải tới Tam Sa2 rồi băng Linh Cảm. Ngàn Trươi đã sừng sững trước mặt kia rồi. Trong tầm mắt cậu là dãy Đại Hàm nơi có đỉnh Vũ Quang3.

Cái tên xóm Đá không phải bỗng dưng mà có. Đá trong ruộng cày. Đá trong vườn ở. Đá làm vách, ___________

1.        Nay thuộc xã Đức Đồng, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh. 

2.        Tam Sa: ba dải lụa, chỉ ba con sông là sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu và sông La. Tên thường gọi là Tam Soa. Cụ Phan Kiêm Huy cho biết lúc qua đây cậu Nguyễn Sinh Cung có vịnh thơ nhưng nay không ai còn nhớ.

3.        Đại Hàm là nơi đóng đại bản doanh của khởi nghĩa Cần Vương Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo. Vũ Quang nơi có chiến thắng lịch sử năm 1895.

làm nền nhà. Chất nhựa của đá góp phần tạo thành máu thịt của con người. Cụ Hoàng Cường1 bưng từng bát nước mời chúng tôi. Tôi có cảm tưởng cánh tay của cụ cũng gồm những thỏi đá ghép lại. Có phải đó là kết quả của một đời cuốc bẫm, cày sâu.

Gật đầu mấy cái liền, cụ Cường kể:

- Đây xưa nguyên là nơi dạy học của cụ Huyện Diễn Châu2. Cụ Phó bảng sang chơi bên này để dạy thay cụ Huyện một thời gian. Tôi thì cha chết, mẹ tái giá về đây. Bố dượng tôi làm nhà ở đợ ngay trong vườn của ông chủ nuôi cụ Huyện. Nhờ đó, tôi được gặp cậu Cung.

Không phải cậu Cung sang đây để học. Nói thế đúng mà cũng không. Đúng vì cậu không ngồi nghe giảng ở lớp, không đúng vì gặp gốc cây cổ thụ nào cậu cũng hỏi, thấy tấm bia dựng trước cổng chùa cậu cũng xem, nhất là đối với những sự tích lớn ở trong vùng thì cậu ra công tìm hiểu. Cậu hỏi những lúc giặc kéo về bao vây quân cụ Phan Đình Phùng thì xóm làng ở đây như thế nào. Cậu tìm đến chuyện trò với những người đã tham gia chiến đấu trong hàng quân của cụ Phan. Cậu theo những đoàn người đốt than, chặt nứa lên tận vùng tiếp giáp với núi Ngàn Trươi. Các ông, các bà ở núi về cứ khen là cậu dẻo chân. ___________

1.  Cụ Hoàng Cường sinh năm 1896.

2.  Tức cụ Võ Tất Đắc.

Những buổi từ rừng sâu trở về, cậu thường kể chuyện cho chúng tôi nghe. Chúng tôi chưa hiểu gì mấy nhưng cậu vẫn rất say sưa.

Cụ Cường đưa tay chỉ về phía có một khối lù lù:

- Hòn núi ấy, dân ở đây quen gọi là Rú Giao, cũng có người gọi là Rú Giáo. Tôi chỉ tưởng rú trùng tên với con dao, ngọn giáo thế thôi. Rồi một bận, bọn trẻ chúng tôi được ngồi quây quần bên cậu. Một bạn nhắc đến rú ấy gọi là Rú Giáo. Cậu hỏi: “Không biết có phải tên núi là thế không vì không có gì đáng gọi là giáo cả?”. Một anh ra bộ láu táu: “Thế cậu bảo là rú chi? Té ra cậu biết hơn bọn mình ở đây?”. Một anh khác gắt lại: “Im mà nghe, làm như gà cậy thế chuồng ấy!”. Lời của cậu Cung đã làm cho tình thế dịu lại: “Nhân hỏi về một câu chuyện ngày trước, mình có được cố nhất1 Xuân của làng ta kể cho nghe rằng, tên núi này xưa là Tràm. Mà các bạn biết đấy, nhiều núi có tên như thế. Nhất là những núi ở gần làng cứ ngày một tràm thấp đi. Nhưng rồi đến khi ta đánh quân Ngô, núi này là nơi giao nhận lương thực, khí giới để chuyển sang bên thành Lục Niên. Hết giặc, bà con mình họp nhau quanh chân núi để ăn mừng và lấy tên núi là Giao Lương. Dần dần, để giản tiện, bà con mình gọi tắt là núi Giao”. Mấy bác hàng xóm cũng nhập bọn với chúng tôi tự bao giờ. ___________

1. Cố nhất cũng gọi là cố thủ chỉ, người cao tuổi nhất làng.

Một bác nhìn cậu Cung mỉm cười: “Cậu này mới đến đây mà thông thuộc tên rào, tên rú như là thổ công”. Cụ Cường thở phào nhẹ nhõm, rồi nói:

-           Anh ạ, hồi ấy tự thấy mình đói rách, những buổi đầu, tôi không dám lại gần cậu. Nhưng cậu thì khác, hễ thấy tôi là cậu khoát tay, gọi đến. Có lúc cậu đón lấy em bé trên tay tôi bế giúp. Cậu cứ hỏi: “Đã ăn cơm chưa? Cơm có no bụng không?”. Nhìn thấy áo tôi rách, cậu vuốt sửa lại và bảo: “Bế em thì chóng rách áo, về nhà nhớ nhắc để mẹ vá cho”.

Nghe chuyện cụ Cường, tôi nhớ ngay đến lời bà Chế ở Võ Liệt. Bà kể:

-           Không chỉ riêng đối với chúng tôi. Cả anh Phạm Thơi hồi đó là mõ làng, cậu Cung cũng cứ tôn trọng như đối với những người cao sang khác. Căn nhà bé nhỏ của anh Thơi dù bên trong sạch sẽ mấy, bởi cái tội vạ lây, cứ bị người ta dè bỉu, khinh miệt, chỉ có người như anh Thơi hay nghèo hơn thế mới lui tới. Thế nhưng cậu Cung thì cứ ra vào thăm hỏi giúp đỡ anh Thơi như thường.

Xóm Đá Du Đồng cũng như thôn Hạ Võ Liệt, ở đó mấy người đói nghèo, khổ tủi bỗng có ngày được một người bạn nhỏ biết đến và nói với mình những lời thân thương. Xóm Đá của bé Cường đã tiễn cậu Cung vào một buổi chiều khi bóng núi Ngàn Trươi đổ xuống cánh đồng Đức Thọ. Cậu đã băng Rú Miện đi xuống làng Trung Lễ - quê cậu ấm Lê Ninh. Bởi việc dấy quân Cần Vương của cậu ấm mà làng bị giặc Pháp triệt hạ và bắt đổi tên thành làng Lạc Thiện. Làng có bị đốt phá nhưng rồi cây vườn lại mọc, cửa nhà lại dựng. Tên làng chỉ đổi trên giấy tờ sổ sách. Người dân làng cậu ấm vẫn gọi tên làng mình là Trung Lễ.

Cậu Cung trở lại Nam Đàn bằng con đường qua đò Vĩnh Đại. Thân phụ của cậu thích đi như vậy mặc dầu đường đi gặp nhiều cách trở.

Từ bến đò Vĩnh Đại nhìn ra là một vùng trời nước bát ngát, bao la. Đó là ngã ba Chợ Tràng. Sông Lam từ đây thật rộng lòng no nước. Thuyền bè trăm ngả, sản vật trăm miền: ngô Cây Chanh, chè Đất Gay, mít Hương Sơn, bưởi Phúc Trạch, khoai Chợ Rộ, mía Nam Đàn, tơ lụa Chợ Hạ, giường tủ Thái Yên, cày cuốc Chợ Hồ, Chợ Trổ. Những khoang thuyền đằm nặng, thuận gió xuôi buồm lướt đi bên cạnh những bè nứa, gỗ, giang, mây, củ nâu, mộc nhĩ, của cải của núi, của ngàn. Những mảng bè nửa chìm nửa nổi, tựa hồ trôi giạt lênh đênh mà thật vững chắc, đằm đã. Sông nhóm về đây sự giàu có của quê hương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
LẠI NGHE, BÀN VỀ CHUYỆN HỌC | Câu chuyện thời hoa lửa