Bài viết

LẠI THẾ NGỌ - HỒI ỨC CHIẾN TRƯỜNG BI TRÁNG

Thông tin nhân chứng: - Họ và tên: Lại Thế Ngọ (cựu chiến binh - thương binh) - Năm sinh: ??/08/1954 - Quê quán: Thôn Tây Đồng Hải, xã Bắc Đông Quan, tỉnh Hưng Yên - Tóm tắt quá trình: Nhập ngũ khi mới 18 tuổi, tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ trên không năm 1972, mười năm tham gia chiến trường Campuchia - chiến trường quốc tế. Mười tám năm trong quân ngũ chiến đấu anh dũng, đến năm 1989 ông xuất ngũ. Với cống hiến của mình, ông đã được trao tặng huân chương chiến công hạng nhất.

Hưng Yên01/01/2026Nhâm Thành Đoàn, Lại Thị Thắm, Lại Mỹ Duyên, Nguyễn Minh Ánh, Trần Vũ Thanh Thư - Lớp: 11A7 (xã Đông Quan)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ảnh anh hùng Lại Thế Ngọ ở thời điểm hiện tại

Ông Lại Thế Ngọ là một người lính từng đi qua nhiều chiến trường ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ và làm nhiệm vụ quốc tế. Sau này dù không trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ nhưng cuộc đời ông đã gắn liền với những năm tháng khốc liệt không kém bắt đầu từ thập niên 1970.

Sau khi được huấn luyện tại tiểu đoàn 938, trung đoàn 51. Đến khoảng năm 1973 ông chính thức bước chân vào chiến trường. Trong giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1975, ông được bổ sung về tiểu đoàn 7, trung đoàn 3, sư đoàn 5 làm nhiệm vụ trinh sát ban đêm - một trong những nhiệm vụ nguy hiểm và gian khổ nhất ngoài mặt trận.

Những đêm trinh sát là những đêm sinh tử. Từ cây cao nhất ông leo lên làm đài quan sát để nắm tình hình địch. Đến khoảng 21 giờ, tổ trinh sát hành quân áp sát, cách chốt địch chừng 100 m thì bắt đầu cởi bỏ trang phục chỉ mặc quần đùi để dễ luồn qua hàng rào thép gai, tránh bị vướng mìn nổ và tránh để lại dấu vết. Từ 1 giờ đến 3 giờ sáng, ông và đồng đội bò sát đất, lẩn từng lớp rào đến từng chướng ngại vật, ghi nhớ từng chi tiết căn cứ của địch rồi về căn cứ của quân ta. Những thông tin ấy là cơ sở quan trọng để bộ binh tổ chức tiến công, giảm thiểu thương vong.

Sau gần một năm trinh sát, cuối năm 1973 ông được chuyển sang lực lượng hỏa lực pháo binh. Trực tiếp sử dụng pháo 82 và DK phối hợp cùng bộ binh trong các trận đánh giải phóng chốt từ cuối năm 1973 cho đến hết năm 1975 cuộc sống nơi rừng núi vô cùng thiếu thốn. Bữa ăn chỉ có cơm trộn với lá rừng (măng rừng), ngủ võng giữa rừng sâu rét buốt. Muỗi cắn dày đặc khiến sốt rét rừng hoành hành. Đường hành quân hiểm trở, bùn lầy, suối sâu, bom mìn sót lại rình rập. Từng bước chân gian khổ chồng chất gian khổ nhưng ý chí người lính không bao giờ lùi bước.

Một kỷ niệm mà ông không bao giờ quên: vào tháng 3 năm 1974 trong trận đánh chốt nhà cao Tây Ninh - một chốt cực kỳ khó đánh. Hôm đó, ông vác nòng DK đi cùng đồng chí Ngọc - tiểu đoàn trưởng, quê Thanh Hóa trực tiếp chỉ huy bắn. Trong lúc nổ súng không may ông bị thương ở chân phải. Sau 20 ngày dưỡng thương ông trở về đơn vị tiếp tục làm nhiệm vụ. Lần khác trên đường từ trạm phẫu về trung đoàn, vì đói ông cùng một đồng chí khác vào xin cơm nhà dân thì bất ngờ rơi vào tình huống bị mai phục. Hai anh em phải chạy dạt vào mé rừng, bị địch truy đuổi khoảng 15, 20 phút rồi nằm ép mình xuống bờ kênh, nín thở trốn thoát trong gang tấc. Khi ấy chỉ cần một sơ suất nhỏ ông có thể đã bị bắt sống trên đất Campuchia.

Sau năm 1975, ông tiếp tục phục vụ trong quân đội. Đến năm 1978, đơn vị cử ông về trường Quân Chính trị Quân khu 7, học lớp cán bộ đại đội. Năm 1979 ông trở lại đơn vị lúc này là sư đoàn 310. Sau đó chuyển công tác sang sư đoàn 12 đảm nhiệm công tác hậu cần tại trung đoàn 7. Trong một lần huấn luyện, một quả đạn cối phát nổ ngay đầu nòng gây nguy hiểm lớn. Nhưng với kinh nghiệm của mình ông và đồng đội vẫn bình tĩnh xử lý tình huống.

Từ năm 1979 đến năm 1981, ông lần lượt được điều động qua các đơn vị 16,17,18 làm đại đội trưởng và từng giữ chức vụ chủ nhiệm pháo binh của trung đoàn. Đến năm 1984, sau hơn một thập kỷ rèn luyện cống hiến chiến đấu, ông được phong quân hàm Đại Úy, bổ nhiệm Phó Chủ nhiệm Chính trị cơ quan chính trị trung đoàn.

Sau nhiều năm bền bỉ chiến đấu, công tác và cống hiến. Năm 1989 ông chính thức xuất ngũ, ghi nhận những chiến công và những đóng góp to lớn của ông. Trong suốt quá trình quân ngũ, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã trao tặng Huân chương chiến công hạng nhất - phần thưởng cao quý cho một đời người lính trung kiên, gan dạ và tận tụy với tổ quốc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn