làm nên chiến thắng vẻ vang
Năm 1965, Bộ Tư lệnh Quân khu miền Đông đã quyết định thành lập trung đoàn chủ lực đầu tiên của quân khu, lấy phiên hiệu là Trung đoàn Đồng Nai, sau này đổi tên thành Trung đoàn 4. Tiểu đoàn 800 đổi phiên hiệu thành Tiểu đoàn 1, biên chế thuộc Trung đoàn 4.
Trong suốt những năm tháng chiến tranh ác liệt ở các căn cứ miền Đông Nam bộ, chiến sĩ Trung đoàn 4 đã mưu trí, dũng cảm, chiến đấu kiên cường, một trong những trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông phải kể đến trận Tầm Bó, tại Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong ký ức của Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, vẫn nhớ như in trận đánh mà ông cùng đội đã làm nên chiến thắng vẻ vang trước sư đoàn được mệnh danh là “Anh cả đỏ” của Mỹ.
Thời điểm những ngày đầu tháng 4/1966, máy bay địch đánh phá ác liệt vào khu vực Tầm Bó. Sau đó, một đại đội lính Mỹ tiến vào khu vực phòng ngự của Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 4 đang đóng quân. Trong cùng ngày, một đại đội khác tiến vào khu vực hậu cần, quân y của Tiểu đoàn 1. Những người lính của Tiểu đoàn đã chuẩn bị sẵn tinh thần và bình tĩnh chờ đợi, khi cách chiến hào khoảng 5m, Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Phê ra lệnh đồng loạt nổ súng.
Bị đánh bất ngờ, một số lính Mỹ bị loại, số khác tháo chạy, nhưng sau đó, chúng tổ chức lực lượng pháo binh, máy bay đến đánh phá, ném bom dữ dội. Cả rừng núi mịt mù trong lửa đạn. Nhiều tuyến hào, hầm bị đánh sập, nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 4 vẫn kiên cường bám trụ chiến đấu. Với cách đánh chờ địch đến thật gần, các loại hỏa lực của ta đồng loạt nổ súng, bộ binh xuất kích đánh địch ngoài chiến hào, đánh giáp lá cà đẩy lùi quân địch, giữ vững trận địa. Trận đánh kết thúc, đơn vị giành thắng lợi giòn giã, loại khỏi vòng chiến đấu bộ phận lớn tiểu đoàn quân Mỹ thuộc Sư đoàn “Anh cả đỏ” và thu nhiều loại vũ khí.
“Các trận đánh khốc liệt và chiến thắng vẻ vang của chúng tôi với quân thù đều có sự tiếp sức của nhân dân. Những năm 1968-1970, địch bình định, bố ráp, người dân phải ăn khoai, củ mì, củ chuối, rau rừng nhưng vẫn dành lương thực, thực phẩm tiếp tế cho bộ đội. Không chỉ vậy, chúng tôi được bà con nhân dân đốt đèn, lấy nước cho rửa mặt, may vá quần áo, che chở và bảo bọc, chúng tôi như người con của những người mẹ, người cha nông dân áo vải. Cả cuộc đời tôi không bao giờ quên ân tình sâu nặng ấy”, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê kể.
Sau khi tham gia nhiều mặt trận ở miền Đông Nam bộ, năm 1972, đồng chí Nguyễn Văn Phê được cử ra Hà Nội học tập. Tháng 3/1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đang bước vào giai đoạn quyết định, người con của quê hương Nam Bộ được lệnh trở về chiến đấu. Ông được giao nhiệm vụ Sư đoàn phó Sư đoàn 6 (Quân khu miền Đông) cùng với đồng chí Đặng Ngọc Sỹ, là Sư đoàn trưởng (sau này là Thiếu tướng, Phó Tư lệnh Quân khu 7), trong đội hình phối hợp của Quân đoàn 4 tiến công tuyến phòng thủ của địch ở Xuân Lộc.
Ngày 21/4/1975, Xuân Lộc và Long Khánh được giải phóng, mở toang “cánh cửa thép” ở hướng Đông cho các lực lượng của ta tiến vào Sài Gòn. Sư đoàn 6 tiến đánh trên trục đường 1, thị xã Biên Hòa, cùng Sư đoàn 341 chiếm các mục tiêu: Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3 ngụy, Bộ Tư lệnh Sư đoàn không quân 5 và sân bay Biên Hòa.
“Chúng tôi đánh đến đâu, tiếp quản đến đó. Đêm đầu tiên canh gác ở sân bay Biên Hòa, tôi nhìn về phía Sài Gòn, đồng đội của tôi cũng đang hướng về đó. Trưa ngày 30/4, tin chiến thắng lan về khắp nơi. Hòa bình rồi. Chiến tranh đã kết thúc rồi. Đó như một giấc mơ đã thành hiện thực ngay trước mắt mình. Chúng tôi ngả mình trên thảm cỏ xanh, nhắm mắt lại và nhớ về những đồng đội đã hy sinh với tất cả nỗi khắc khoải” - Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê nhớ về khoảnh khắc Sài Gòn giải phóng 51 năm về trước.
Đất nước hòa bình, ông trải qua nhiều cương vị công tác, năm 1990, ông được bổ nhiệm giữ chức Chỉ huy trưởng Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Sông Bé (tỉnh Bình Dương cũ) và cùng năm đó được phong hàm Thiếu tướng và nghỉ hưu năm 1997.
Trở về đời thường, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê luôn tận tâm làm công tác đền ơn đáp nghĩa, sống tiếp phần đời không chỉ của riêng mình, mà còn thay cho bao đồng đội đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường. Ông luôn nhắc nhở mình, hòa bình là thành quả được đánh đổi bằng máu xương, nước mắt và biết bao mất mát không gì bù đắp nổi.



