Lần đầu thấy bộ đội Việt Minh
Tôi nghe câu chuyện này từ cụ Hoàng Thị Pàn, người Tày ở vùng núi Bắc Kạn. Khi kể, cụ đã gần chín mươi tuổi nhưng vẫn nhớ rất rõ buổi chiều đầu tiên cụ nhìn thấy những người lính Việt Minh bước vào bản. Cụ bảo: “Đó là ngày tôi hiểu đất nước mình sắp đổi khác.”

ôi nghe câu chuyện này từ cụ Hoàng Thị Pàn, người Tày ở vùng núi Bắc Kạn. Khi kể, cụ đã gần chín mươi tuổi nhưng vẫn nhớ rất rõ buổi chiều đầu tiên cụ nhìn thấy những người lính Việt Minh bước vào bản. Cụ bảo: “Đó là ngày tôi hiểu đất nước mình sắp đổi khác.”
Năm 1944, bản Nà Cọ nằm sâu giữa núi rừng. Dân bản nghèo, quanh năm làm nương, trồng ngô, trồng lúa rẫy. Người lớn ít khi nói chuyện chính trị trước mặt trẻ con, nhưng ai cũng biết ngoài kia đang có giặc Nhật, giặc Pháp và nhiều điều bất ổn.
Khi ấy cụ Pàn mới mười hai tuổi.
Một chiều cuối đông, cụ đang chăn trâu bên bãi cỏ thì thấy từ con đường mòn trên núi có mấy người đàn ông đi xuống. Họ mặc quần áo nâu chàm như người dân, vai đeo túi vải, chân đi dép cao su hoặc dép cắt từ lốp xe. Không ai có vẻ oai vệ như lính mà trẻ con từng tưởng tượng.
Cậu bé đi cùng cụ thì thầm:
– Có khi là phỉ đấy!
Hai đứa vội lùa trâu chạy về bản.
Về đến đầu bản, cụ thấy những người ấy đã đứng trước nhà ông trưởng bản. Một người dáng cao gầy, khuôn mặt hiền, chắp tay chào bà con bằng tiếng Tày còn chưa thật sõi:
– Chúng tôi là bộ đội Việt Minh, đến nhờ bà con giúp đỡ.
Dân bản im lặng. Mấy người đàn ông đứng phía sau vẫn còn dè chừng.
Ngày ấy ai cũng sợ. Giúp người lạ có thể bị lính dọa nạt, bắt bớ. Ông trưởng bản hỏi:
– Các anh có súng không?
Người cán bộ mỉm cười, mở tấm áo chàm. Bên trong là khẩu súng trường đã cũ.
Đó là lần đầu tiên cụ Pàn nhìn thấy bộ đội Việt Minh.
Điều làm cụ ngạc nhiên không phải khẩu súng, mà là cách họ cư xử. Họ không quát tháo, không đòi gà vịt, không bắt dân phục dịch như những toán lính từng đi qua vùng này.
Buổi tối, bà con cho họ ở nhờ trong nhà sàn. Trước khi ăn, người cán bộ lấy từ túi ra nắm gạo nhỏ đặt lên mâm:
– Đây là phần của chúng tôi, xin góp cùng bà con.
Mẹ cụ Pàn xúc động nói:
– Các anh đi đánh giặc mà còn mang gạo theo sao?
Anh cười:
– Không được làm dân đói thêm.
Câu nói ấy lan khắp bản rất nhanh.
Đêm hôm đó, lần đầu tiên dân bản được nghe nói về độc lập, về việc người Việt phải tự cứu lấy nước mình. Người cán bộ lấy que vạch xuống nền đất, giải thích thế nào là nước Việt Nam, thế nào là giặc ngoại xâm, vì sao phải đoàn kết.
Cụ Pàn ngồi nép sau cột nhà, nghe mà chưa hiểu hết. Nhưng cụ nhớ đôi mắt của người cán bộ sáng lên khi nói đến hai chữ “tự do”.
Ông còn hỏi trẻ con:
– Các cháu có muốn được đi học không?
Cả lũ gật đầu.
– Muốn có trường học, muốn không còn bị đánh đập, muốn được sống yên ổn thì phải có nước độc lập.
Đó là bài học đầu tiên về Tổ quốc mà cụ được nghe.
Sáng hôm sau, bộ đội chuẩn bị rời bản. Trước khi đi, họ giúp dân sửa lại chiếc cầu tre bị gãy qua suối. Mấy anh lính lội xuống nước lạnh buốt, buộc từng cây nứa cho chắc.
Cụ Pàn hỏi nhỏ một anh trẻ tuổi:
– Anh có về lại bản không?
Anh xoa đầu cụ:
– Khi nào nước mình hết giặc, anh sẽ về.
Rồi anh lấy trong túi ra một chiếc bút chì ngắn đưa cho cụ.
– Cố học chữ nhé.
Chiếc bút chì ấy cụ giữ suốt nhiều năm, đến khi chỉ còn ngắn bằng ngón tay út.
Ít tháng sau, tin tức cách mạng lan rộng hơn. Nhiều thanh niên trong vùng theo Việt Minh. Có người hy sinh, có người mãi không trở về. Nhưng từ ngày những người lính ấy xuất hiện, bản Nà Cọ không còn như trước nữa.
Người dân bắt đầu tin rằng người nghèo cũng có thể góp phần cứu nước.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, cụ Pàn được đi học lớp bình dân học vụ. Cầm viên phấn viết những chữ đầu tiên, cụ bỗng nhớ đến chiếc bút chì của anh bộ đội năm nào.
Nhiều chục năm đã trôi qua, cụ không còn nhớ tên người chiến sĩ ấy. Nhưng cụ nhớ rất rõ buổi chiều cuối đông, con đường mòn trên núi và những người lính áo chàm bước vào bản với nụ cười hiền lành.
Cụ nói với con cháu:
– Lần đầu thấy bộ đội Việt Minh, tôi không thấy sự đáng sợ của chiến tranh. Tôi thấy hy vọng.
Và có lẽ, trong những bản làng xa xôi của Việt Bắc năm ấy, hy vọng chính là vũ khí đầu tiên mà cách mạng mang đến cho nhân dân.


