LẦN THEO DẤU VẾT
Đoạn kể về hành trình tìm lại phần mộ liệt sĩ Đỗ Đình Đồng của gia đình và đồng đội. Nhờ sự giúp đỡ của cựu chiến binh Phan Quốc Trượng, người trực tiếp chôn cất anh năm 1975, cùng các nhân chứng và người dân địa phương, đoàn đã xác định được vị trí ngôi mộ ban đầu và lần theo hồ sơ quy tập về nghĩa trang liệt sĩ tỉnh. Dù còn vướng mắc nhỏ về thủ tục và số thứ tự mộ, nhưng phần mộ của liệt sĩ đã được xác định, thể hiện tình nghĩa đồng đội và sự tri ân của nhân dân đối với những người đã hy sinh.
Ngày 3-7-2007, anh Đỗ Đình Công từ thị trấn Tiên Lãng, Hải Phòng vào nhờ hỗ trợ tìm mộ anh trai là liệt sỹ Đỗ Đình Đồng. Liệt sỹ Đỗ Đình Đồng có tên trong bản danh sách 65 liệt sỹ (trong danh sách ghi số thứ tự 08, tên là Đỗ Đình Đông, nhưng năm sinh, quê quán, đơn vị đều đúng). Danh sách quản lý mộ trong nghĩa trang liệt sỹ của Tỉnh và Sở LĐ TB XH đều không có tên.
Điều may mắn là thân nhân có mối quan hệ với anh Phan Quốc Trượng, CCB Sư đoàn Sao Vàng. Phan Quốc Trượng vốn là người cùng làng, cùng đơn vị, cùng khẩu đội và người trực tiếp mai táng liệt sỹ Đỗ Đình Đồng. Năm 1976, được nghỉ phép về thăm quê anh đã đến thăm và báo tin cho gia đình biết trường hợp hy sinh của liệt sỹ Đỗ Đình Đồng. Gia đình rất cảm động, nhưng khi ấy cuộc sống rất khó khăn chưa có điều kiện vào tìm mộ liệt sỹ. Phan Quốc Trượng hiện nay vào sinh sống tại Vũng Tàu, ở số nhà 178 Chu Mạnh Trinh, phường 8.
Chúng tôi cùng anh Phạm Quang Lập, Ban liên lạc CCB Sư đoàn Sao Vàng và thân nhân liệt sỹ đến gặp Phan Quốc Trượng. Anh Trượng kể: chúng tôi ở đơn vị C16, hỏa lực của Trung đoàn 12. C16 có hai khẩu đội DKZ75, hai khẩu đội cối 82. Trận địa đặt ở bìa rừng, cách chốt điểm địch khoảng 500 mét. Trận địa địch đắp bằng bao cát dày, có tháp canh dựng cao để quan sát. Tôi, anh Triết, anh Đồng cùng khẩu đội bắn 6 trái DKZ vào lô cốt địch. Tụi nó phản pháo, anh Đồng hy sinh. Tôi và một đồng đội đưa thi hài anh Đồng qua con suối, băng qua cánh đồng, chôn anh ở chân đồi, hồi ấy gọi là đồi Ba Vĩnh (đất nhà ông Ba Vĩnh). Tôi vẫn còn nhớ vị trí, địa hình, hy vọng là tìm được.
Anh Năm Mai đón chúng tôi ở tượng đài chiến thắng Bình Giã. Đây là vị trí Chi khu Đức Thạnh, nơi Trung đoàn 12 đánh trận mở màn chiều 26-4-1975. Anh Năm Mai trước đây là bộ đội huyện Châu Đức, sau giải phóng anh là xã đội trưởng Ngãi Giao, rất rành địa hình, biết rõ những người từng công tác ở đó. Đến đầu dốc Đường Cùng, Năm Mai chỉ cho chúng tôi vị trí chốt tiền tiêu của Chi khu. Phan Quốc Trượng reo lên: “Đúng rồi, tôi nhận ra rồi!”
Quốc Trượng bỏ xe, lội bộ xuống chân dốc. Anh chỉ ngọn đồi các anh đặt súng, nơi Đỗ Đình Đồng hy sinh và chỉ khu vực anh đã mai táng người đồng đội, ngay dưới chân đồi, cách con suối không xa, một ngọn suối nhỏ bắt nguồn từ Bàu Chinh, đổ về suối Lúc. Khu vực này bây giờ cây cỏ mọc um tùm, có một số mộ của dân.
Anh Năm Mai đưa chúng tôi vào gặp chị Mai Phương Thành (Bảy Thành). Chị Bảy khi đó là Bí thư chi bộ xã Ngãi Giao, nhưng thời điểm giải phóng huyện Châu Đức, chị đang đi học, không về kịp nhưng chuyện ngôi mộ thì chị biết. Khu vực chân đồi chỉ có một ngôi mộ liệt sỹ, vừa bốc cốt đưa về nghĩa trang năm ngoái. Người phát hiện ngôi mộ là cô Ngà, và chính anh Năm Chiến, chồng chị đề nghị huyện quy tập về nghĩa trang liệt sỹ. Anh Năm Chiến (Võ Minh Chiến) trước đây ở Trung đoàn 4, chiến đấu trên địa bàn này.
Anh Năm Chiến đưa chúng tôi ra vị trí ngôi mộ đã được bốc cốt. Gạt lớp cỏ lẫn trong đám dây khổ qua rừng, vẫn còn vương một vài mảnh nilon mà chính tay Phan Quốc Trượng đã bọc thi thể đồng đội. Anh Năm Chiến tận tình lấy xe Honda vào xóm chở chị Ngà ra để thân nhân được cảm ơn và hỏi thăm thêm chi tiết.
Phạm Thị Ngà (Sáu Ngà), sinh năm 1959 hiện ở ấp Tân Hiệp, xã Bầu Chinh, con của mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Chảng. Chị nhớ, mấy bữa trước đó, tụi lính Sư đoàn 18 ngụy thua trận Long Khánh kéo về rất đông, có toán rút về Bà Rịa, có toán ở lại Đức Thạnh. Bữa đó có nghe súng DKZ, súng AK nổ, biết là anh em mình đánh. Nghe địch phản pháo, má nói chị ra xem anh em đàng mình có bị làm sao không. Sáu Ngà thấy các anh khiêng xác một anh băng qua cánh đồng, vượt con suối nhỏ, vô chân đồi, đào hố chôn. Chị về kể cho má, thấy rõ anh mặc chiếc áo bộ đội màu xanh, đẫm máu, tướng lớn con. Má thường nói với Ngà: Tội nghiệp, chỉ còn mấy bữa là giải phóng mà anh không được trở về, má giục Ngà hôm sau ra đắp lại mộ cho anh. Tết năm ấy, má nhắc Ngà ra thắp nhang cho anh. Rồi má qua đời (1976), Ngà đưa ra chôn má ngay cạnh mộ anh. Năm sau ba cũng qua đời, chôn cạnh mộ má. Lần nào ra thắp nhang cho ba má, Ngà đều thắp cho anh. Mỗi lần thắp nhang, Ngà lại nhớ như in hình ảnh người chiến sỹ ấy.
Năm 2000, Ngà xây mộ cho má, cho ba. Ngôi mộ người chiến sỹ ấy trở nên lẻ loi, xập xệ. Sáu Ngà đề nghị chính quyền xã cho hốt cốt về nghĩa trang liệt sỹ...
Trở lại Phòng LĐ TB XH, chị Ngà lục lại hồ sơ, có biên bản bốc cốt, biên bản bàn giao về nghĩa trang. Anh Vân, phụ trách tổ quản trang tiếp nhận hài cốt. Suốt cả hành trình tìm mộ, mọi việc đều suôn sẻ, gặp được những nhân chứng, những người đồng đội, những cơ sở Cách mạng đầy lòng nhân ái, ai cũng xúc động và cảm thấy may mắn như có bậc thần linh phù hộ. Hồ sơ, tư liệu và chỉ dẫn của các nhân chứng đều khớp nhau. Vậy mà vẫn có trục trặc. Một trục trặc nhỏ thôi. Đó là khi trở về nghĩa trang liệt sỹ tỉnh, anh Vân phụ trách tổ quản trang cứ băn khoăn tra sổ rồi đưa đoàn ra thực địa. Ngôi mộ an táng tại lô số 21, trong sổ quản lý đánh số thứ tự là 168, nhưng do bữa cải táng phải đợi Tỉnh tổ chức làm lễ nên có 2 hài cốt khác do thân nhân tự quy tập về an táng trước, vì vậy, trên thực tế, ngôi mộ của Đỗ Đình Đồng nằm ở vị trí 170. Anh Vân đã viết giấy xác nhận cho thân nhân theo vị trí thực tế (lô số 21, mộ 170), nhưng trước đó, trong văn bản đề nghị xây mộ gửi Sở LĐ TB XH anh đã ghi số thứ tự mộ là 168. Vì vậy việc nhận mộ vẫn còn phải chờ xác minh.
Ngôi mộ vẫn còn đó, không lẫn được vì đợt quy tập này, trong lô, cùng hàng, chỉ có mộ anh là chưa có tên. Trên bia ghi rõ: Liệt sỹ chưa biết tên, quy tập từ ấp Đường Cùng về. Những người biết tên anh, biết mộ anh và thân nhân vẫn còn chờ thủ tục thêm một tuần nữa. Thân nhân của liệt sỹ Đỗ Đình Đồng cảm thấy chuyến đi tìm mộ thật là may mắn. Nhưng chúng tôi biết rằng, đối với những trường hợp khác, hành trình tìm mộ liệt sỹ vẫn còn không ít gian nan.


