Bài viết

"Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Đài hoa vĩnh cửu": PHẦN II: QUÂN DÂN MỘT LÒNG XÂY DỰNG LĂNG BÁC

09/08/2026Chi đoàn Trường Tiểu học Trần Quốc Toản ((LĐ) Đoàn phường Lang Biang - Đà Lạt)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
"Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Đài hoa vĩnh cửu": PHẦN II: QUÂN DÂN MỘT LÒNG XÂY DỰNG LĂNG BÁC

Đã sang tháng 1 năm 1970

Nhưng vẫn còn là tháng Chạp mùa đông của năm Kỷ Dậu. Vẫn rét, tuy vậy không còn rét buốt nữa, mà bây giờ là cái rét diêu diêu đầy gợi cảm của Hà Nội. Thành phố đã thấp thoáng có chút màu sắc và không khí tết Canh Tuất. Nhưng dẫu sao nỗi buồn Bác mất hồi tháng 9 năm 1969 mới đây vẫn chưa nguôi trong lòng người Thủ đô và cả nước. Thật vậy dường như chưa một ai quên những ngày đau buồn ấy…

Sáng nay, đồng chí Nguyễn Ngọc Chân, Viện trưởng Viện Thiết kế dân dụng Bộ Kiến trúc đạp xe tới cơ quan Bộ. Ông vừa đạp xe vừa nhớ lại Lễ Quốc tang Bác Hồ đã hoàn tất với tất cả sự trang trọng và tình sâu nghĩa nặng của toàn dân. Nay mọi công việc đã chuyển sang những nội dung cũng rất to lớn khác là: Một mặt tiếp tục lưu giữ thi hài Bác thật tốt, mặt khác phải tích cực triển khai mọi mặt công tác chuẩn bị để có thể sớm xây Lăng Bác, ngôi nhà vĩnh hằng của Người, sao cho khang trang to đẹp, đáp ứng được lòng mong muốn của toàn Đảng, toàn dân…

Việc tiếp tục bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác vẫn do bên quân đội đảm trách theo Nghị quyết của Bộ Chính trị. Quân ủy Trung ương đã giao nhiệm vụ cho Bộ Tư lệnh Công binh chọn lựa một số cán bộ, chiến sỹ triển khai khảo sát, thiết kế, thi công cải tạo xây dựng lại một phần công trình K5 - một căn cứ địa của Trung ương thuộc vùng rừng núi Ba Vì để di chuyển thi hài Bác lên đó cho tới khi xây dựng xong Lăng. Việc xây dựng Lăng, Bộ Chính trị đã giao nhiệm vụ cho Bộ Kiến trúc và bây giờ nhiệm vụ này được đặt lên hàng đầu, hết sức to lớn và khẩn trương không phải chỉ riêng với Bộ Kến trúc mà là cả nước… Thật vậy, gần như song song với nhau, trong khi Bộ đội Công binh khẩn trương cải tạo, xây dựng công trình K5 trên Ba Vì, thì ở Hà Nội, Bộ Kiến trúc cũng bắt đầu tích cực tiến hành mọi việc chuẩn bị cho xây dựng Lăng. Trong nhiệm vụ hết sức to lớn, việc then chốt, quan trọng số một là tổ chức nghiên cứu, thiết kế mô hình Lăng, lập ra nhiệm vụ thiết kế và khởi thảo được bản thiết kế cho tốt nhất. Ông Nguyễn Ngọc Chân là Viện trưởng Viện Thiết kế nên đã được Bộ giao nhiệm vụ chủ trì việc này. Ông cùng kiến trúc sư Phó Viện trưởng Viện Thiết kế Vương Quốc Mỹ đã xin được gặp đồng chí Trường Chinh để lĩnh ý kiến chỉ đạo, rồi sau đó hai ông Nguyễn Ngọc Chân và Vương Quốc Mỹ đã cùng một số kiến trúc sư và cán bộ trong Viện khởi thảo được Bản Nhiệm vụ thiết kế xây dựng Lăng Bác, giao cho đồng chí Khôi Nguyên viết và vẽ lại hoàn chỉnh.

Hôm nay, ông Chân lên Bộ báo cáo công việc đã chuẩn bị để sẽ làm việc với Đoàn chuyên gia xây dựng của Liên Xô sắp sang Việt Nam trong thời gian tới. Bộ trưởng Kiến trúc Bùi Quang Tạo đã chờ sẵn ở phòng làm việc. Khi nghe ông Chân trình bày mọi ý chuẩn bị cho cuộc làm việc với Đoàn Liên Xô, ông tỏ vẻ hài lòng và không hỏi thêm gì nhiều, chỉ nhắc lại mấy ý lớn - cũng là những nguyên tắc mà Bộ Chính trị đã chỉ ra là làm việc với Bạn rất cần phải nhắc tới để Bạn nắm được ý định của ta. Đó là:

1. Lăng phải bảo đảm giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh nguyên vẹn và lâu dài, chống được các biến động có hại của khí hậu, thời tiết, và phải an toàn, phòng chiến tranh, địch phá.

2. Cần thể hiện được tính hiện đại mà vẫn mang đậm màu sắc dân tộc. Trang nghiêm, nhưng giản dị.

3. Cần chú ý bảo đảm được sự thuận tiện cho nhân dân và khách nước ngoài đến viếng đông và liên tục. Bảo đảm sự kiên cố, bền vững của công trình.

4. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xây dựng ở Khu Ba Đình lịch sử.

Trước khi ông Chân ra về, Bộ trưởng còn vui vẻ nhắc lại mấy điều mà ông tâm đắc về mô hình Lăng Bác trong bản thiết kế do ông Chân và một số kiến trúc sư của Viện Thiết kế dân dụng phác thảo. Trước hết khối Lăng mang hình dáng cách điệu của một đài sen. Sen là loài hoa ở Việt Nam được coi là tinh khiết và cao quý. Sen còn đồng âm, đồng nghĩa với quê hương Bác: Làng Sen (Kim Liên). Kết cấu Lăng đã chú ý tính dân tộc, trước hết là không để Bác ở sâu dưới mặt đất, thi hài Bác phải được đặt ở khối chính của Lăng và trên cao. Lễ đài cho các vị lãnh đạo đứng chủ trì các cuộc mít tinh và duyệt binh đặt ở phía trước Lăng nhưng phải thấp hơn nơi Bác nằm để giữ được phong cách truyền thống của dân tộc làtôn kính vĩ nhân, tôn kính tổ tiên. Một điểm nữa: Dù đẹp nhưng Lăng vẫn giữ được vẻ giản dị đúng theo phong cách rất giản dị của Bác, không hoa văn rườm rà, hầu hết chỉ là mặt phẳng, kể cả các cột nhưng vẫn rất trang nghiêm và cũng mang cả dáng dấp hiện đại mà không hề khô cứng. Ông Chân thay mặt anh em cảm ơn những nhận xét của đồng chí Bộ trưởng rồi chào ra vê.

Bốn ngày sau, ngày 9 tháng 1 năm 1970, Đoàn chuyên gia Liên Xô đầu tiên về xây dựng Lăng Bác đã tới Hà Nội. Ông Chân thay mặt lãnh đạo Bộ Kiến trúc ra đón Bạn từ sân bay. Đoàn sang 7 người: Viện sĩ Ka-diu-sốp, một Trung tướng đã đứng tuổi, đại diện Ủy ban Liên lạc kinh tế với nước ngoài thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô làm trưởng đoàn, các thành viên khác thuộc Viện nghiên cứu thiết kế, Cục Tổ chức xây dựng Mát-xcơ-va, Viện Kỹ thuật vệ sinh, Viện Kỹ thuật chế tạo máy lạnh.

Sáng hôm sau, buổi làm việc của hai đoàn được tiến hành, rất trang trọng, nhưng cũng rất thân mật. Đoàn Việt Nam gồm trưởng đoàn là Viện trưởng Viện Thiết kế dân dụng Nguyễn Ngọc Chân cùng 7 cán bộ là người của Bộ Kiến trúc, ngoài ra còn có 4 cán bộ của Bộ Tư lệnh Công binh. Tất cả các thành viên đều là các kỹ sư, kiến trúc sư, là những chuyên gia giỏi trong ngành kiến trúc, xây dựng ở Việt Nam.

Mở đầu cuộc họp, phía Việt Nam thông cáo để Bạn biết quyết định của Bộ Chính trị Đảng Lao động Việt Nam về xây dựng Lăng Bác Hồ tại Quảng trường Ba Đình - Hà Nội với những yêu cầu mà Bộ trưởng Bộ Kiến trúc Bùi Quang Tạo đã nhắc lại cách đây mấy ngày. Về phía Liên Xô, trước hết Bạn bày tỏ lòng tiếc thương và vô cùng tôn kính đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ anh minh của nhân dân Việt Nam, nhà lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc nổi tiếng trên thế giới, người bạn lớn của Liên Xô. Tiếp đó đồng chí Ka-diu-sốp cũng thông báo quyết định của Chính phủ Liên Xô giúp đỡ Việt Nam về kỹ thuật trong việc thiết kế, xây dựng, và cung cấp các trang thiết bị kỹ thuật cho Lăng Bác. Sau đó hai bên thoả thuận lấy bản " thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh " do phía Việt Nam đã chuẩn bị để cùng thảo luận.

image.png

Các chuyên gia Liên Xô là nững người có kiến thức sâu rộng, giàu kinh nghiệm, luôn luôn dành cho ta tình cảm hữu nghị và trách nhiệm cao. Các Bạn đã xem rất kỹ các bản phác thảo mô hình Lăng, đọc rất kỹ từng vấn đề (đã được dịch sang tiếng Nga) trong bản dự thảo thiết kế do ta soạn thảo. Sauđó các Bạn Liên Xô đã chân thành giới thiệu những kinh nghiệm và thực tiễn của Liên Xô trong xây dựng và tôn tạo Lăng Lê-nin. Hai bên cùng tập trung thảo luận góp ý vào bản dự thảo của ta.

Buổi làm việc đầu tiên đạt kết quả tốt. Một trong những nội dung được dành nhiều thời gian thảo luận là xác định lại tính chất của Lăng. Riêng hai từ “Vĩnh viễn” hay “lâu dài” cũng đã thảo luận đi thảo luận lại rất sôi nổi. Những buổi làm việc tiếp theo hai bên tập trung thảo luận về mô hình Lăng và Bản “Thiết kế sơ bộ nhiệm vụ xây dựng Lăng Bác" do ta soạn thảo. Nhiều ý kiến trao đổi rất thẳng thắn như Lăng có nên xây thành ba phần không? Phần dưới có nên phỏng theo kiến trúc truyền thống cổ truyền của Việt Nam là xây theo phong cách bậc tam cấp không? Tầng trên, tầng chính, nơi đặt thi hài Bác, xung quanh có nên xây cột tạo ra các khoảng cách mang hình tượng nhà 5 gian, hay chỉ 3 gian không?... Ngoài ra những kiến trúc khác xung quanh Lăng sẽ là những kiến trúc nào để cùng tạo nên một quần thể mà Lăng là chủ thể?... Cứ như thế, sau một tuần làm việc, các chuyên gia Liên Xô và Việt Nam đã sửa chữa, bổ sung, rồi cùng thống nhất trong một bản "Dự thảo nhiệm vụ thiết kế Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh” đầy đủ, chặt chẽ hơn trước, đáp ứng được các yêu cầu mà Bộ Chính trị đề ra: Lăng và Quảng trường, Khu lưu niệm trong Phủ Chủ tịch, Bảo tàng Hồ Chí Minh sẽ xây dựng sau này và các công trình phụ cận, tất cả tạo nên một quần thể kiến trúc lịch sử, văn hóa thống nhất, trong đó Lăng là chủ thể.

Phía Bạn rất hoan nghênh và sẽ bổ sung thêm vào bản Nhiệm vụ thiết kế  một số thay đổi kỹ thuật cần thiết. Về phía Việt Nam hứa sẽ tìm thêm những số liệu gốc phục vụ cho việc thiết kế và sẽ gửi sang cho Bạn chậm nhất là sau hai tuần Bạn rời Hà Nội. Việt Nam cũng sẽ cử một số kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành kỹ thuật giỏi sang Liên Xô tham gia thiết kế kỹ thuật. Việt Nam cũng nhận về phần mình việc giải phóng mặt bằng, tạo mặt bằng thi công, đồng thời cung cấp năng lượng, điện, nước, máy móc thi công, phương tiện vận chuyển, cung cấp những vật tư mà trong nước có thể khai thác được.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã thân mật tiếp Trung tướng - Viện sĩ Ka-diu-sốp cùng các thành viên trong đoàn trước khi về nước. Thủ tướng nhấn mạnh: Kết quả làm việc của Doàn là bước mở đầu xây dựng Lăng Bác Hồ. Trong quá trình làm việc cán bộ hai bên đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, đoàn kết gắn bó, tình cảm anh em, đồng chí rất cao quý.

Khi Bạn về nước rồi, kiến trúc sư, kỹ sư, cán bộ kỹ thuật của ta đã làm việc chi tiết thêm về bản dự thảo này. Chỉ sau hơn một tháng, ta đã hoàn chỉnh bản “Nhiệm vụ thiết kế sơ bộ Lăng Bác”.

Sang tháng 5 (1970), một đoàn chuyên gia Liên Xô lại sang ta. Đoàn trưởng là kiến trúc sư danh tiếng Mét-vê-đép - Viện trưởng Viện thiết kế các công trình đặc biệt của Liên Xô cùng kiến trúc sư Ga-rôn I. Sa-cô-vích trẻ hơn nhưng cũng rất nổi tiếng (sau này, khi khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, để ghi nhận công lao, đóng góp, Đảng, Nhà nước ta đã phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động cho hai đồng chí này). Kiến trúc sư Ga-rôn chuyển cho đoàn ta 5 bản phác thảo mặt đứng và một bản phác thảo mặt phẳng của Lăng do các kiến trúc sư Liên Xô nhiệt tâm đã tự nguyện thiết kế để cùng trao đổi, thảo luận. Đoàn Việt Nam rất cảm ơn tấm lòng của các Bạn Liên Xô, nhận sẽ nghiên cứu ngay.

Về Bộ Kiến trúc, anh em ta cùng xem kỹ lại các bản sơ thảo của Bạn. Mọi người đều thấy khá hay, tuy nhiên tính dân tộc và những đặc sắc Việt Nam không được đậm nét cho lắm. Cũng dễ hiểu, bởi tác giả của những bản phác thảo này dù đều là những kiến trúc sư đầu ngành nhưng chưa một lần tới Việt Nam, chưa nghiên cứu được nhiều về văn hoá Việt Nam… Tranh thủ thêm ý kiến các kiến trúc sư đầu ngành của ta như Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Cao Luyện, Ngô Huy Quỳnh… các ông này cũng thống nhất nhận xét là các bản phác thảo của Bạn thể hiện tính dân tộc chưa rõ. Mọi người cùng nhất trí đề nghị hai bên lấy bản phác thảo thiết kế sơ bộ của Việt Nam làm cơ sở thảo luận và kiên trì bảo vệ mấy đặc điểm dân tộc của ta: Tầng dưới xây theo kiểu bậc tam cấp, tầng trên có hiên và có các hàng cột…

Hôm sau vào họp. Sau một hồi bàn thảo, hai bên nhất trí lấy bản Thiết kế sơ bộ công trình Lăng Bác đã khởi thảo tại Liên Xô làm cơ sở để cùng thảo luận, tập trung về mặt khoa học và kỹ thuật. Những ý kiến của Bạn đã được ghi nhận là: Cần chú trọng hơn nữa tới các giải pháp về môi trường, khí hậu nhiệt đới, do đó một số phòng cần nới rộng thêm diện tích, các hệ thống thiết bị phải có dự trữ thay thế 100% để bảo đảm trong bất cứ tình huống nào, công trình vẫn phải hoạt động được bình thường. Ta hoàn toàn nhất trí.

Sau khi đoàn Liên Xô về nước, với tinh thần hết sức cẩn trọng, khẩn trương, ta lại mở một cuộc hội thảo từ 15 đến 28 tháng 5 ở Hà Nội và lại mời một đoàn chuyên gia Liên Xô sang cùng tham gia. Đoàn sang lần này do Viện sĩ Xa-mô-din - đại diện Ban Kinh tế đối ngoại Liên Xô làm trưởng đoàn. Thành viên của đoàn có kiến trúc sư, Viện sĩ Ga-rôn, đã sang ta lần trước, một kỹ sư điện, đồng chí Ma-xô-bô-vi-lôp - đại diện ban Văn hóa đối ngoại, Trưởng phòng Vật tư Ki-rin-kô, Trung tá X­cô-lôp. Phía Việt Nam do Bộ trưởng Bùi Quang Tạo trực tiếp làm trưởng đoàn, các thành viên gồm có kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân, Viện trưởng; kiến trúc sư Vương Quốc Mỹ, Viện phó; phía quân đội có Đại tá Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng; đồng chí Trần Kinh Chi, Cục trưởng Bảo vệ; đồng chí Trần Bá Đặng, Phó Tư lệnh Công binh, đồng chí Lương Soạn, Trưởng phòng Công trình Bộ Tư lệnh Công binh và đồng chí Nguyễn Trọng Quyển, Trưởng ban Thiết kế thuộc Phòng Công trình Bộ Tư lệnh Công binh… Cuộc hội thảo chia ra hai nhóm làm việc: Nhóm kiến trúc có kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân, kiến trúc sư Vương Quốc Mỹ và kiến trúc sư Ga-rôn I. Sa-cô-vích.. Nhóm mặt bằng trong Lăng có các đồng chí: Trần Bá Đặng, Lương Soạn và Nguyễn Trọng Quyển. Như đã thành truyền thống, Hội nghị trao đổi rất cởi mở, chân thành và cũng rất sôi nổi, đã kéo dài ngót nửa tháng. Cuối cùng hai bên đã thống nhất ghi vào biên bản xác nhận Bản thiết kế sơ bộ công trình Lăng Bác làm trước giữa hai bên mang số hiệu 75808 cơ bản đã thể hiện trình độ chuyên môn cao, có chất lượng tốt. Hội thảo liên tịch lần này chỉ bổ sung một số điều và sửa lại đôi chỗ.

Sau cuộc hội thảo, ta đã báo cáo lên trên đầy đủ nội dung thảo luận và kết luận của hội thảo, cũng báo cáo cả ý kiến khác nhau để trên tham khảo. Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trường Chinh lắng nghe các ý kiến. Tuy nhiên, không quá vội vã, chưa muốn có quyết định cuối cùng, cần lấy thêm nhiều ý kiến của đông đảo nhân dân, đồng chí Trường Chinh thay mặt Bộ Chính trị đã chỉ thị mở một cuộc vận động sáng tác các mẫu thiết kế Lăng Bác và đem triển lãm các mẫu được chọn swo bộ ấy để lấy ý kiến của đông đảo nhân dân…

Thế là cuộc vận động sáng tác mô hình thiết kế Lăng Bác đã nhanh chóng được hưởng ứng rộng rãi của mọi tầng lớp nhân dân, trong nước và cả kiều bào nước ngoài, lưu học sinh và cán bộ, nhân viên Việt Nam đang công tác ở nước ngoài. Sau hai tháng, Ban Tổ chức cuộc vận động đã nhận được hơn 200 phương án thiết kế khác nhau của 16 đơn vị, ngành và nhiều cá nhân gửi tới. Ban Tổ chức lập Hội đồng sơ tuyển, chọn ra được 24 phương án có nhiều ưu điểm nhất để triển lãm lấy thêm ý kiến nhân dân. Ban Tổ chức dã chọn năm địa điểm triển lãm là: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Sơn La và Kim Liên - Nghệ An quê Bác.

Triển lãm ở Hà Nội mở tại Phòng Thông tin Tràng Tiền, khai mạc ngày 2 tháng 9 năm 1970, bế mạc ngày 30 tháng 10. Ngày bế mạc vẫn còn rất đông người tới xem và đề nghị kéo dài hơn nữa. Số lượt người xem đếm được là 462.499 lượt người với đủ nghề nghiệp, đơn vị công tác, tuổi tác và dân tộc khác nhau.

Ở Nghệ An quê Bác, triển lãm mở cửa từ ngày 3 tháng 9 năm 1970 đến ngày 30 tháng 9 năm 1970. Đã có 23.766 lượt người tới xem và 1.526 người tham gia ý kiến. Riêng ở làng Sen quê Bác triển lãm diễn ra hết sức nhộn nhịp. Người ở khắp vùng kéo về. Có những cụ già tóc bạc phơ, có những cụ già trước kia từng tham gia "Xích vệ đỏ" cũng chống gậy tới xem triển lãm. Có người vừa xem vừa khóc nhớ Bác. Những đơn vị bộ đội trên đường hành quân vào Nam chiến đấu cũng dừng lại vào xem triển lãm, dâng hương và hứa với Bác vào Nam sẽ kiên quyết đánh thắng quân thù xâm lược, và cũng không quên góp một số ý vào các đồ án xây dựng để rồi tiếp tục cuộc hành quân.

Tại Thái Nguyên, triển lãm mở cửa chậm hơn một chút (từ 1 - 10 đến 05 - 11 - 1970) nhưng cũng đã có 66.084 lượt đồng bào các dân tộc về thăm phòng trưng bày mô hình Lăng Bác, có 2.846 ý kiến tham gia đóng góp.

Phòng triển lãm tại Sơn La mở từ ngày 1 tháng 10 năm 1970 đến ngày 1 tháng 11 năm 1970 với hơn 26.623 lượt đồng bào tới xem, gồm đủ các thành phần thuộc các dân tộc, đã đóng góp nwhngx ý kiến hết sức mộc mạc, chân thành và vô cùng xúc động. Có nhiều người đến trông thấy ảnh Bác đã ôm mặt khóc. Bà con dân tộc thì xúc động nói: "Các đồng chí xây Lăng Bác cho đẹp, cho to. Bà con dân tộc sẽ về viếng Bác cho thoả lòng mong ước…”.

Cuộc triển lãm ở Hải Phòng mở muộn hơn, từ ngày 02 tháng 10 năm 1970 đến hết ngày 08 tháng 11 cùng năm. Trong 32 ngày triển lãm mở cửa đã có tới 164.565 lượt đồng bào tới xem với 6.035 ý kiến đóng góp vào các bản đồ án.

Cuộc tuyển chọn và trưng bày các đồ án xây dựng Lăng Bác đã thu được kết quả rất tốt đẹp. Tổng cộng có 745.487 lượt người tới xem và 34.022 người tham gia góp ý. Trong số 24 phương án được đưa ra triển lãm, có 5 phương án được người xem tán thành và tập trung ý kiến góp ý nhiều nhất đó  là phương án của Viện Thiết kế dân dụng (Bộ Kiến trúc) mang số 1, phương án mang số 10 của Viện Thiết kế quy hoạch thành thị, nông thôn (cũng của Bộ Kiến trúc), phương án mang số 13 của đồng tác giả: Một số cán bộ thuộc Bộ Giao thông vận tải, Bộ Cơ khí luyện kim và Trường Đại học Xây dựng, hai phương án số 15 và 16 là của quân đội (thuộc Bộ Tư lệnh Công binh).

Phương án số 1 của Viện Thiết kế dân dụng (Bộ Kiến trúc - do ông Nguyễn Ngọc Chân và ông Vương Quốc Mỹ chủ trì) có nét đặc sắc (tầng dưới là bệ tam cấp, trông rất tôn nghiêm mà cũng rất thân thuộc với phong cách kiến trúc Việt Nam. Thân Lăng là tầng trên, tầng chính, có các cột xung quanh tạo hình ngôi nhà 5 gian rất quen thuộc ở làng quê Việt Nam. Trên nóc Lăng vẫn được nhắc lại tam cấp một lần nữa với các góc vát gợi lên hình ảnh những góc đao của mái đình, mái chùa ở quê ta.

Phương án số 10 do kiến trúc sư Hoành Như Tiếp chủ trì, có tư tưởng khác: Riêng Lăng đã là cả một quần thể kiến trúc, nên giữ lại lễ đài cũ vốn có từ lâu, dùng 3 cổng của lễ đài này làm cổng Lăng. Khách đi viếng Bác qua vòm cổng, sẽ qua một khu vườn rộng cây xanh, với hồ nước và cây cảnh…rồi mới tới nơi Bác nghỉ trên một gò đất đắp cao. Lăng Bác xây trên gò đất cao ấy. Phương án này có nhiều nét rất thanh cao, phong nhã Việt Nam và Á Đông.

Phương án số 13 (của một số tác giả độc lập cùng cộng tác) lấy cảm hứng từ câu “Tháp Mười đẹp nhất bông sen”… và làng Sen cũng là quê Bác.. Mô hình Lăng sẽ là một bông sen được cách điệu và được xây ở giữa hồ sen.

Phương án số 15 của Công binh cũng là một quần thể kiến trúc có khối chính là Lăng Bác, xung quanh là vườn cây. Khối chính Lăng có hình dáng một ngôi nhà 3 gian Việt Nam, có bậc tam cấp đi lên, đặc biệt phía sau Lăng có một đường thoải dốc cho xe lăn của thương binh lên được tới chỗ đặt thi hài Bác.

Phương án số 16 của (tập thể cán bộ thiết kế Tổng cục Hậu cần quân đội) là một phương án cũng độc đáo: Ở khu vực Ba Đình đắp một quả đồi (khoảng một triệu mét khối đất), xây Lăng trên quả đồi này. Trên đỉnh Lăng có thể thiết kế giống một lầu thơ. Xung quanh Lăng và quả đồi là hồ nước và cây cối. Nhiều người xem nói rằng: Đền Hùng cũng xây theo kiến trúc này. Lâu thơ còn gợi khung cảnh Bác ngồi đó làm việc và làm thơ. "… Trăng nhòm cửa sổ đòi thơ…”. Nhưng cũng nhiều người không đồng tình cho rằng lầu thơ giống Khuê Văn Các ở Văn Miếu. Đắp một quả đồi giữa lòng Hà Nội sẽ rất khó để thực hiện và cao quá, các cụ già và trẻ em lên sẽ vất vả, thêm nữa vì xúc động sẽ có nhiều người ngã giữa lưng đồi, không lên nổi hoặc xuống được, mà phải khiêng cáng thì không hay…

Ngoài những phương án cụ thể đã trưng bày, nhân dân đã góp 6.627 ý kiến nói chung về việc xây Lăng Bác, không ít người cho rằng nên kéo dài thêm thời gian cho các nhà chuyên môn và nhân dân các nơi đóng góp thêm ý kiến. Có ý kiến nhấn mạnh: Lăng dứt khoát phải quay về hướng Nam cho phù hợp với phong tục làm nhà của dân ta và cũng phù hợp với tấm lòng Bác luôn hướng về miền Nam thành đồng Tổ quốc…

Đồng bào ở các tỉnh xa không được xem triển lãm và Việt kiều ở nước ngoài không về được cũng nhiệt tâm gửi nhiều thư về tham gia ý kiến.

Đồng chí Nguyễn Trọng Hợp - bộ đội hòm thư 47 - 170 - OR cũng có thư đề nghị xây núi Bác Hồ chứ không phải Lăng. Theo ý đồng chí nên đục hẳn một quả núi thành một pho tượng Bác. Đấy sẽ là một công trình điêu khắc độc đáo, xung quanh là hồ và các công trình nghệ thuật khác…

Ông Kim Cúc, cán bộ hưu trí tại xóm 1 thị trấn Lào Cai dù đang lâm bệnh hiểm nghèo cũng viết thư về rất cảm động cũng gợi ý Lăng Bác nên hướng về phương Nam. Nơi Bác nằm nên lát gạch mầu, ghép hình năm châu bốn biển, vì thủa thanh niên Bác đã đi năm châu bốn biển để tìm đường cứu nước. Trước cửa Lăng nên trăng hoa bất tử để nói lên sự nghiệp của Bác sống mãi với nhân dân, Tổ quốc ta…

Ông Trần Nhất Thống, cán bộ Tổng cục Thuỷ văn nghỉ hưu đã viết: Đề nghị nên phỏng theo hình ảnh hang Pắc Bó với suối Lê-nin, núi Các Mác để xây Lăng Bác, cụm tượng Bác với đồng bào, quân đội và các cháu thiếu nhi…theo ý tưởng của Bác: “Đoàn kết - Chiến đấu - Sản xuất - Học tập…”.

Bà Phùng Thị Cúc, nghệ sĩ điêu khắc nổi tiếng thế giới là Việt Kiều ở Pháp cũng gửi thư và ảnh mô hình Lăng Bác. Theo mô hình này, trùm lên hết là một thanh gươm không lưỡi. Bên trái là một em bé ôm lấy một quan tài, bên phải là em bé khác nũng nịu cụng đầu vào đó. Theo bà: Mô hình này toát lên ý tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu hoà bình và yêu trẻ thơ.

Anh Đặng Đậu, sinh viên khoa kiến trúc tại Bun-ga-ri viết thư về mô tả Lăng Đi-mi-trôp để ở nhà tham khảo…

Các bạn quốc tế cũng hết sức quan tâm đến cuộc triển lãm các mô hình Lăng Bác. Giám đốc cơ quan đại diện Thông tấn xã Nô-vô-sti (Liên Xô) tại Hà Nội viết thư xin gặp người phụ trách triển lãm Lăng để đưa tin rộng khắp về cuộc trưng cầu dân ý này, và ông cũng có một số sáng kiến xin đóng góp.

Như vậy, cuộc triển lãm mô hình Lăng Bác đã thành công như ý muốn, chủ trương vận động nhân dân tham gia thiết kế là hết sức đúng đắn, Tổng kết lại, qua những ý kiến nhận được, đa số đã chọn Phương án số 1, số 10 và số 15.

Bộ Chính trị đã được báo cáo đầy đủ về kết quả của đợt triển lãm và đánh giá công việc đã thành công rất tốt đẹp, chứng tỏ nhân dân ta vô cùng yêu quý Bác. Và cũng  thêm một lần nữa, cuộc trưng cầu ý dân cũng như các triển lãm, đã minh chứng mạnh mẽ sự ủng hộ nhiệt thành và to lớn của nhân dân ta với chủ trương của Đảng lưu giữ lâu dài thi hài và xây dựng Lăng Bác. Nếu có thời gian, cuộc trưng cầu ý dân có thể sẽ được kéo dài hơn nữa để có thêm thật nhiều ý kiến tâm huyết với công trình lịch sử này. Tuy nhiên mong muốn của toàn dân sớm có Lăng để lưu giữ thi hài Bác được thật an toàn và nhân dân sớm được vào Lăng viếng Bác là đòi hỏi vô cùng chính đáng, vì thế những cuộc triển lãm, xin ý kiến nhân dân không thể kéo dài thêm.

Ba phương án 1, 10, 15 được nhiều ý kiến ủng hộ hơn cả, đã được ông Nguyễn Ngọc Chân chỉ đạo các kiến trúc sư tu chỉnh lại và tổng hợp các ý kiến đóng góp của nhân dân, rồi rất cẩn thận, một nhóm kiến trúc sư, kỹ sư của ta lại mang sang Liên Xô làm việc với Bạn.

Qua ba tuần lễ trao đổi ý kiến với các chuyên gia Liên Xô, cuối cùng bản Phương án "Thiệt kế sơ bộ” có bổ sung ý kiến của nhân dân đã được Bạn hoan nghênh, chọn lọc tiếp thu. Tuy nhiên, với kiến thức chuyên sâu Bạn vẫn bổ sung mấy điều quan trọng, như mái làm tam cấp là đẹp nhưng nên mỏng, nhẹ, thanh thoát hơn, tỷ lệ các phần ở khối chính của Lăng cần phải cân đối. Hai lễ đài ở hai bên nên có khoảng cách với các khối chính của Lăng, sẽ tạo thêm sự tôn nghiêm cho Lăng Bác… Cầu thang ở hậu sảnh lên phòng làm thuốc cần đặt ở vị trí kín đáo hơn. Buồng “đặc biệt” cần kiên cố, đề phòng khi có chiến tranh vẫn giữ được thi hài tại chỗ, chống được sự phá hoại của bom đạn và bảo đảm an toàn, không bị lũ lụt, thiên tai. Quan tài kính nơi bác yên nghỉ phải được thiết kế bằng vật liệu đặc biệt bảo đảm cho người vào viếng Bác nhìn được Bác rõ hơn và bảo đảm thi hài Bác an toàn tuyệt đối.

Tất cả những ý kiến của bạn đã được đoàn ta điện ngay về báo cáo với và được trên rất hoan nghênh. Về những thay đổi, hoặc bổ sung của đoàn ta, đều được đoàn Bạn báo cáo ngay lên Chính phủ và cũng được đồng tình nhất trí.

Sự kiện đã tới lúc chính muồi. Ngày 9 tháng 2 năm 1971, tại Mát-xcơ-va, trong một buổi lễ trang trọng, hai đồng chí thay mặt cho hai Chính phủ Việt Nam và Liên Xô: Đồng chí Lê Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam - Phó Thủ tướng Chính phủ và đồng chí Nô-vi-côp, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Liên Xô – Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô đã cùng ký vào bản hiệp định về việc Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô Viết giúp đỡ kỹ thuật cho Việt Nam dân chủ cộng hoà trong việc giữ gìn thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh và xây dựng Lăng của Người.

Thế là bước khởi đầu vô cùng quan trọng đã kết thúc tốt đẹp. Tuy nhiên, phía trước còn biết bao công việc vẫn đang chờ đợi từ phía Bạn: Bản thiết kế sơ bộ, bản thiết kế kỹ thuật, rồi hàng nghìn bảnvẽ kỹ thuật chi tiết của công trình… cùng bản kế hoạch tổng thể, để công trình có thể bắt đầu.

Ngày 31 tháng 11 năm 1971, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ký quyết định chính thức thành lập Ban Phụ trách xây dựng Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, gồm:

- Đồng chí Đỗ Mười - Phó Thủ tướng - Trưởng Ban.

- Đồng chí Bùi Quang Tạo - Bộ trưởng Bộ Kiến trúc - Phó Ban.

- Đồng chí Phùng Thế Tài - Phó Tổng Tham mưu trưởng - Uỷ viên.

Lực lượng chủ lực, nòng cốt xây dựng công trình là Bộ Quốc phòng và Bộ Kiến trúc.

Ngày 3 tháng 12 năm 1971 ở Hà Nội đã có cuộc hội nghị quan trọng tiến hành đợt xét duyệt chính thức bản thiết kế kỹ thuật Lăng. Một đoàn Liên Xô nữa lại được mời sang, do đồng chí Vô-đơ-chi-nhin, đại điện uỷ quyền của Tổng cục Kỹ thuật và Uỷ ban Liên lạc kinh tế đối ngoại Liên Xô dẫn đầu. Tham gia đoàn có đầy đủ các kiến truc sư, kỹ sư là tác giả của bản thiết kế kỹ thuật sẽ được đưa ra thông qua lần chót này. Phía Việt Nam tham dự cũng khá đông, gồm các đồng chí: Nguyễn Ngọc Chân - Trưởng đoàn, đồng chí Lương Soạn - Phó đoàn và một số đồng chí kiến trúc sư, kỹ sư thuộc Bộ Xây dựng và Bộ Tư lệnh Công binh. Nhiệm vụ chung của Hội nghị là góp ý bổ sung (nếu cần) trước khi đưa trình Bộ Chính trị ta chính thức phê duyệt.

Hội nghị lần này diễn ra từ ngày 03 tháng 12 năm 197l kéo dài tới gần một tháng cho tới 31 tháng 12 năm 1971 mới kết thúc. Không phải vì có nhiều vấn đề còn phải tranh luận mà do nội dung bàn thiết kế rất lớn, rất phong phú, cần phải đi vào cụ thể, chi tiết. Hai bên đã nhất trí chính thức xác nhận: Bản thiết kế kỹ thuật lần này đã dựa trên bản dự thảo nhiệm vụ thiết kế đầu tiên và những bản dự thảo sau đó của Việt Nam cùng các bản dự thảo của Liên Xô. Hai bên đã thống nhất sửa đổi, bổ sung trong bản thiết kế mới một số điều cụ thể… Liên Xô sẽ cung cấp các bản vẽ thi công cho Việt Nam trong vòng 12 tháng, cung cấp các thiết bị vật tư trong vòng 27 tháng kể từ ngày Chính phủ Việt Nam phê duyệt bản thiết kế này (cung cấp vật tư thiết bị phải mất 27 tháng có nghĩa là hơn 2 năm, bởi vì Liên Xô trang bị cho Lăng các máy móc thế hệ mới, hiện đại, nhiều máy, nhiều bộ phận phải đặt ở nhiều nước khác như Na Uy, Phần Lan, Ý, Mỹ, Nhật).

Như vậy, những nét lớn của bản quy hoạch tổng thể mới này đã xác định Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh nằm trong một quần thể các công trình lịch sử, văn hoá gồm: Lăng Bác, Quảng trường Ba Đình, Phủ Chủ tịch và các công trình khu lưu niệm Bác như Bảo tàng Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ. Lăng Bác là công trình chính sẽ làm trước hết cùng quảng trường (các công trình khác sẽ lần lượt làm sau). Bản thiết kế này cũng đã xác định lại lần cuối là: Lăng sẽ có hình khối với mặt bằng 47 x 34m, cao 21,65m, phần dưới xây theo kiểu bệ cao tam cấp theo phong cách cổ truyền của kiến trúc Việt Nam. Phần trên - tức phần giữa Lăng là phần chính, nhỏ hơn phần bệ tam cấp, sẽ là nơi đặt thi hài Bác. Tầng này cả 4 mặt đều có cột để tạo ra các khoảng trống nom tựa như các gian của những ngôi nhà 5 gian ở Kim Liên - Nghệ An nói riêng và mọi miền quê Việt Nam nói chung. Tầng trên cùng là mái Lăng cũng nhắc lại tam cấp, nhưng mỏng, thanh thoát hơn với các góc mái vát lên như các đao đình chùa cổ theo phong cách dân tộc.Toàn bộ khối Lăng được kết cấu bằng bê tông cốt thép và ốp đá quý cả lẫn ngoài, mang dáng vẻ một bông sen đang hé nở. Hai bên Lăng cũng sẽ xây hai lễ dài để các đại biểu ngồi dự các cuộc mít tinh lớn. Nhưng khác trước, lần này hai lễ đài ở hai cánh không xây liền với khối chính của Lăng. Như vậy sẽ tôn được vẻ đẹp trang nghiêm của Lăng mà vẫn rất hoà hợp, gắn bó trong một quần thể kiến trúc lớn vừa trang nghiêm, vừa đẹp mắt. Còn quảng trường ở trước lễ đài cũng sẽ được tôn tạo lại. Quảng trường sẽ rộng hơn, với những thiết bị hệ thống thoát nước hiện đại không để úng ngập, hệ thống chiếu sáng và âm thanh, hệ thống đường giao thông nội bộ trong khu vực Lăng sẽ được nghiên cứu lại rất chi tiết, thuận lợ cho việc đi lại. Nói chung cả khu Lăng Bác sẽ là một tổng thể công trình mang tính lịch sử, văn hoá và khoa học, kỹ thuật tiên tiến ch­a từng có ở nước ta….

Và thế là ngày 31 tháng 12 năm 1971, sau hai năm làm việc hết mình với trí tuệ, tài năng và lòng kính yêu Bác Hồ sâu nặng của tất cả các đồng chí của ta, từ lãnh đạo cao nhất tới các cán bộ, chiến sỹ, công nhân, thanh niên nam nữ, cộng với sự đóng góp nhiệt tâm của nhân dân các địa phương trong cả nước và sự phối hợp, giúp đỡ chí tình, hiệu quả của Đảng Cộng sản và Chính phủ Liên Xô qua các chuyên gia tài năng và giàu kinh nghiệm, bản “Thiết kê' kỹ thuật” chính thức đã được trình lên Chính phủ ta duyệt và quyết định cho khởi công xây dựng. Bản thiết kế 31 tháng 12 năm 1971 được coi như bó hoa tươi thắm đầu tiên, trong đó có cả những bông hoa đẹp của các Bạn Liên Xô - được chính thức dâng lên Bác với lòng tri ân vô hạn và cũng để chào mừng Việt Nam đã có thể chuẩn bị bước vào thời kỳ chính thức xây dựng Lăng Bác to lớn, hiện đại và thẩm mỹ cao.

Ban Phụ trách xây dựng Lăng hết sứcphấn chấn, đã tiến hành họp ngay sau khi có quyết định xây Lăng. Đồng chí Đỗ Mười - Phó Thủ tướng - Trưởng ban Phụ trách xây dựng Lăng cùng toàn Ban đã hạ quyết tâm sẽ sớm khởi công và khánh thành Lăng Bác. Đồng chíchỉ định một Ban Chỉ huy công trường gồm các đồng chí: Kiến trúc sư Vương Quốc Mỹ, Chỉ huy trưởng; Thượng tá Phạm Bá Đặng (Công binh), Phó Chỉ huy thứ nhất; Trung tá Lương Soạn (Công binh), Phó Chỉ huy phụ trách vật tư; đồng chí Nguyễn Nhi, Phó Chỉ huy kiêm Bí thư Đảng ủy công trường; đồng chí Nguyễn Văn Bé, Phó Chỉ huy phụ trách kỹ thuật.

Bộ trưởng Bộ Kiến trúc Bùi Quang Tạo, Phó Trưởng ban Ban Xây dựng đã giao nhiệm vụ cho Công trường 57 cùng với Công trường 75808 và các công ty, các viện kỹ thuật của Bộ khẩn trương làm công tác chuẩn bị.

Trong khi đó phía quân đội cũng triển khai rất nhiều công việc chuẩn bị rất khẩn trương, sôi nổi. Một đơn vị được thành lập mang phiên hiệu Trung đoàn 259B sẽ chuyên trách làm nhiệm vụ lắp máy. Đồng chí Nguyễn Văn Tý được quyết định làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Văn Đình Khánh làm Chính uỷ. Trung đoàn được phép tuyển chọn các cán bộ kỹ thuật, công nhân có trình độ tay nghề cao ở các nhà máy, xí nghiệp, các đươn vị trong các quân khu, quân chủng, binh chủng. Tuy nhiên rất khó tuyển chọn. Sau 4 tháng được cấp trên giúp đỡ, đơn vị mới tuyển được có 8 người. Bước sang năm mới 1972, ngày 28 tháng 2, Trung đoàn 259B chính thứcra đời, mang tên đoàn Ba Đình. Tổng số cán bộ chuyên môn kỹ thuật có tăng hơn buổi đầu nhưng cũng mới chỉ có 20 người, mà công việc thì ngay lập tức đã ngập đầu: Nghiên cứu các bản vẽ từ Liên Xô liên tục gửi sang, thống kê các công việc, bàn các giải pháp thi công, bổ sung trang thiết bị và dụng cụ, dự kiến nhân lực thi công, tiếp tục tìm kiếm cán bộ, công nhân kỹ thuật để xin bổ sung, bên cạnh lại còn phải sửa chữa doanh trại… Quá nhiều việc. Nhưng cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 259B rất hăng say, bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị. Dịp ấy, ở Quảng trường Ba Đình không phải chỉ có cán bộ, chiến sỹ của Trung đoàn công binh 259B, mà còn có rất nhiều cán bộ của một số đơn vị dân sự khác cũngra nghiên cứu, bàn bạc ngay tại hiện trường. Người ta thấy có anh em công nhân Bưu điện, các chị nhân viên Công ty Công viên cùng các anh cán bộ các ngành cơ khí và cả cán bộ của các nhà máy nước, nhà máy điện… Gặp nhau, tay bắt mặt mừng, ai nấy đều hiểu họ sẽ cùng nhau hợp lực lao động không ít ngày ở nơi đây, trên công trường lịch sử này… Họ không những chỉ trò chuyện về công việc xây Lăng Bác, mà mọi người còn rất hào hứng bàn luận về những trận chiến đấu năm 1972 của ta ở miền Nam đang mở ra gần như đồng loạt từ Trị - Thiên - Huế, tới Tây Nguyên, rồi Khu 5, Khu 6 và Nam Bộ… Đâu đâu cũng thắng lớn phá được nhiều khu vực phòng ngự của Mỹ - Thiệu. Bộ đội chủ lực của ta trưởng thành rất nhanh, đã đứng vững trên các địa bàn cơ động, cả vùng rừng núi, cả giáp ranh và nhất là cả một số vùng quan trọng ở đồng bằng… Chiến thắng năm nay của ta đã làm cho báo chí thế giới nhiều tờ đã phải viết: "Công thức Việt Nam hoá chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam đang đứng trước nguy cơ sụp đổ".

Cũng thời gian này, qua thông báo trên đài phát thanh, qua điện đài nội bộ và cả báo chí, nhiều địa phương trong nước, cả Bắc và Nam, nhân dân đã được biết về quyết tâm xây Lăng Bác, và công việc lo lớn thiêng liêng này đã bắt đầu chuẩn bị mọi mặt, trong đó vật liệu xây dựng đang là một trong những việc được chú trọng hàng đầu. Bởi vậy, đồng bào ở các nơi cũng bắt đầu nghĩ tới chuyện kiếm tìm vật liệu để góp phần “xây nhà cho Bác" (nói theo đồng bào các dân tộc Tây Nguyên). Nơi bàn kiếm đá quý, nơi hô hào nhau tìm gỗ quý, nơi quyết phải mò cho được ngọc trai, nơi sẵn sàng xe cát vàng để xây Lăng, nơi đã rủ nhau đi soi tìm sỏi hiếm, nơi đã sớm bàn cả đến "kỳ hoa, dị thảo" để trồng hoặc bầy góp vào các vườn hoa quanh Lăng Bác. Công nhân, cán bộ các nhà máy cơ khí, các nhà máy xi măng, các công trường… và cả các nghệ nhân nổi tiếng về mộc, khảm, trạm, rèn với những tay nghề "siêu việt" cũng đã bàn nhau sẽ tình nguyện lên phục vụ Lăng Bác. Các đoàn thể thanh niên, phụ nữ, công đoàn, nông hội ở hầu khắp các tỉnh cùng cả một số đồng bào dân tộc và tôn giáo cũng như nhiều nhà trí thức, nhà khoa học đều sẵn sàng tham gia đóng góp công sức xây Lăng nếu công trường cần tới sẽ có mặt ngay. Việt kiều ở Pháp, ở Trung Hoa, ở Bỉ cũng có một số nhà khoa học hoặc kiến trúc giỏi gửi thư hoặc nhắn về: Nếu cần, bà con cũng sẽ xin tình nguyện được tham gia.

Nhưng khi cả nước đang sôi nổi để bắt tay vào chuẩn bị chuẩn bị xây Lăng Bác thì còi báo động máy bay Mỹ bỗng réo lên. Ních-xơn đã cam kết ngừng ném bom từ vĩ tuyến 20 trở ra, từ tháng 4 năm 1972, nhưng chúng đã lật lọng. Từng còi hồi dài cuồn cuộn, dữ dội, kéo dài, đầy căm giận làm rung chuyển cả không gian và náo động cả lòng người đang yên bình trong mọi công việc hàng ngày, nhất là đang mong đợi công cuộc xây dựng Lăng Bác có thể bắt đầu.

Tại trụ sở Bộ chỉ huy Phòng không - Không quân, ngày 15 tháng 12 năm 1972, đồng chí Phùng Thế Tài, Phó Tổng Tham mưu trưởng giờ này đã kịp thời có mặt để kiểm tra và động viên Quân chủng. Ông nghiêm trang nói với mọi người:

- Bác luôn luôn có những dự báo thiên tài: Năm 1941 từ Pắc Bó, Bác đã dự báo cách mạng có khả năng sẽ nổ ra vào năm 1945. Kháng chiến chống Pháp, Bác cũng đã nói trước: Điện Biên Phủ bị tiêu diệt, Pháp sẽ hết lực... Rồi tới tháng 12 năm 1967, rất sớm, nghĩa là từ 5 năm trước đây, Bác đã nói với tôi - khi ấy đang là Tư lệnh ở đây, rằng: "Mỹ thế nào cũng đem B52 ra đánh cả Hà Nội. Rồi có thua nó mới chịu thua trên bầu trời Hà Nội. Ta phải chuẩn bị…". Nay thì coi! Quả là chúng nó đã ra Hà Nội...

Mọi người đều gật đầu trầm trồ:

- Bác quả như thần...

Hội nghị Pa-ri lại bế tắc vì những đòi hỏi ngang ngược của Mỹ. Ních-xơn đã hé lộ muốn ra tay "Đánh đòn cuối cùng". Phái đoàn ngoại giao của ta phần đông đã được lệnh cùng đồng chí Lê Đức Thọ trở về nước.      

Mỹ đã ném bom trở lại Hải Phòng. Hà Nội phát lệnh sơ tán. Trên các cửa ô Hà Nội đã tái diễn những cảnh như trước đây: Từng nhóm, từng đoàn người, chủ yếu vẫn là phụ nữ và con trẻ, nối tiếp nhau tạm ra đi, về các làng quê. Trong khi ấy, đi ngược chiều lại với những đoàn, những nhóm người tất tả ấy là rất nhiều đơn vị cao xạ lớn, nhỏ đầy bụi đường trường, và cả những đơn vị tên lửa với những cành lá ngụy trang nhảy múa, những người chiến sỹ trẻ măng mặt cháy nắng như chim đậu trên xe, bám cả bên những quả đạn đồ sộ dài và nhọn hoắt. Từ nhiều hướng, nhiều đường các đơn vị phòng không mạnh mẽ nối tiếp nhâu ầm ầm tiến về phía Hà Nội, bụi cuốn đỏ đường, đỏ trời. Lực lượng phòng không lần này rõ ràng được tập trung về đây nhiều và hùng mạnh hơn hẳn những khi trước. Dường như ai ai cũng thấy được lần này chắc chắn là sẽ có đánh lớn, thậm chí rất lớn và rất ác liệt trên bầu trời Hà Nội...

Tuy nhiên, trong những ngày đầu tháng Chạp rất khẩn trương này, không phải chỉ có nhân dân và một số cơ quan sơ tán ra khỏi thành phố mà theo lệnh trên: Cả công trường chuẩn bị xây Lăng Bác cũng tạm ngừng. Các lực lượng thanh niên, công nhân của nhiều cơ quan, xí nghiệp, nhà máy của Hà Nội, và lực lượng quân đội (chủ yếu là công binh) vừa mới được tập trung trở lại, nay cũng phải tạm phân tán trở về các địa phương hoặc đơn vị cũ. Chỉ còn một lực lượng nhỏ ở lại để bảo quản những vật tư đã sớm đưa về được một phần và làm lòng cốt để rồi khi có cơ hội sẽ lại cùng nhau xây dựng công trình thế kỷ này.

Hầu hết anh chị em đều cảm thấy như bị một cú sốc lớn. Trong những ngày bắt đầu phải tạm sơ tán ấy, trên Quảng trường Ba Đình đã luôn diễn ra những cuộc chia tay bạn bè của nhiều anh chị em công nhân, và cả cán bộ của nhiều đơn vị, nhiều địa phương như thợ sắt Hải Phòng, thợ gỗ Hà Tây (cũ), thợ xây Hà Bắc (cũ), thợ đá Thanh Hoá... Tuy mới được về đây, mới quen biết nhưng có người đã thân nhau, giờ đây phải ngừng công việc để trở về chốn cũ, ai nấy đều không khỏi buồn rầu. Tất cả chỉ còn biết hứa hẹn: Sẽ sớm gặp lại và cầu xin Bác anh minh hãy phù hộ cho cuộc chiến này chóng thắng lợi để cho anh chị em bạn bè sẽ sớm lại được tái ngộ, cùng nhau xây "Ngôi nhà của Bác" như đang mơ ước, đang hy vọng. Nhưng cũng còn có cả những lời căm giận như những lời nguyền rủa: "Thằng Mỹ độc ác, nó sẽ chết!".

Ngày 16 tháng 4 năm 1972, Mỹ ném bom trở lại miền Bắc. Mọi công việc sơ tán của thành phố, trong đó có bộ phận chuẩn bị ban đầu của công trường 75808 đã được hoàn thành về cơ bản.

Cũng trong ngày hôm đó, trinh sát chiến lược của ca cấp báo về: Ních- xơn đã ra lệnh thả thuỷ lôi phong toả cảng Hải Phòng và các cảng trong Khu 4 nhằm bịt chặt mọi sự chi viện từ đường biển vào ta.

Ngày 18 tháng 12 năm 1972, lệnh báo động đỏ đã được phát ra trên toàn cơ quan Tổng hành dinh và tất cả các đơn vị trực chiến, các đơn vị dân quân và bộ đội, không quân và cao xạ. Cả Hà Nội căng lên trong tinh thần quyết chiến.

19 giờ 15 phút hôm ấy, khi trời đã tối sập, một tiếng nổ lớn bỗng gầm lên. Cả bầu trời Hà Nội bật đỏ phừng. Cây cối, nhà cửa, cùng những gương mặt với những cặp mắt như bốc lửa trong tất cả các vị trí tác chiến, các giao thông hao, các hầm trú ẩn. Quả tên lửa đầu tiên của Trung Đoàn Ba Bể đã mở đầu cho "Trận Điện Biên phủ trên không” anh hùng. Tiếp đó lại một quả nữa của đội 77 Trung đoàn 257 - Sư đoàn tên lửa 361. Quả đạn tuyệt vời ấy đã bắn trung ngay một chiếc B52 bắt đầu lao vào bầu trời Hà Nội. Một quả cầu lửa đỏ bùng lên kinh hồn. Lập tức muôn ngàn tiếng reo hò từ dưới tất cả hầm hố, các giao thông hào, các trận địa lớn nhỏ, các sân bay... cùng trào lên như sóng biển, như sấm ran khắp nơi.

Trên tất cả các đài quan sát cũng như vỡ oà theo với những tiếng reo như thét lên.

Điện mừng từ các nơi, các hướng báo về như mưa.

Trận đánh thắng B52 Mỹ trên bầu trời Hà Nội đã mở đầu trong những phút không sao quên được. Nhưng không phải chỉ Hà Nội, mà cả Hải Phòng cũng vậy, trận mở đầu đánh B52 cũng rực lửa, oai hùng và vô cùng xúc động như thế...

Thế rồi qua 12 ngày đêm máu lửa, Ních-xơn đã như "dốc túi". Chiến dịch không quân lớn nhất thời đại của Mỹ với chủ yếu là B52 ném bom rải thảm, chiến dịch mang tên Linebacker II đã hoàn toàn thất bại, với thiệt hại quá lớn: 34 máy bay B52, 5 máy bay F111, cùng hàng chục chiếc cường kích các loại: Thần sấm, Con ma, Giặc nhà trời, Thanh bảo kiếm... đã bị tiêu diệt. Không chịu nổi nữa, Ních-xơn đã phải hạ lệnh chấm dứt chiến dịch 12 ngày đêm tội ác ấy. Rồi chỉ một, hai ngày sau đó không phải chỉ chấm dứt ném bom, Ních-xơn còn phải chủ động gửi điện cho ta yêu cầu nối lại Hội nghi Pa- ri. Bức điện ấy được gửi đi trong khi báo chí cả thế giới còn đang xúc động, tiếp tục rầm rộ đưa tin thảm hại của Ních-xơn với cái dịch giội bom tội ác ấy trên bầu trời miền Bắc Việt Nam.

Ngay sáng hôm sau, khi cái chiến dịch B52 chấm dứt, rất nhiều người dân Hà Nội đi sơ tán đã mau chân hồi cư. Trên đường trở về mọi người đã được tận mắt thấy những xác máy bay. Không ít làng xóm, thị trấn tan hoang ... Vào tới thành phố, người ta cũng đã nhìn rõ một số nơi bị bom đạn khói còn nghi ngút, lửa còn lùng bùng nơi này nơi khác như Khâm Thiên, Bệnh viện Bạch Mai... Máu vẫn còn đỏ trên một số bức tường, trên một số khu chợ hoặc đường phố... Nhưng người ta cũng thấy được tận mắt mình, thậm chí được sờ mó hẳn vào những mảng - chứ không chỉ là mảnh vỡ - của các xác máy bay Mỹ bị bắn hạ. Có cái rơi ngay trên đường phố Hà Nội, có cái đâm ngay xuống Hồ Trúc Bạch... Người sơ tán về sớm còn thấy được tận mắt ngay trên các làng quê ở vành nhiều giặc lái bị bắt sống vẫn còn nguyên những bộ đồ bay kỳ dị nhưng đều đã tơi tả, lấm lem hoặc rách nát. Không ít tên bị thương trên mặt, trên đầu quấn băng trắng lốp do quân, dân ta cấp cứu khi bắt được chúng. Đứa nằm rên la trên cáng, đứa được dìu đi tập tễnh với những cặp mắt hoang mang, sợ hãi... Quang cảnh Hà Nội trong suốt ngày hôm ấy, ngày 1 tháng 1 năm 1973 và cả mấy ngày sau vẫn còn ngổn ngang. Người đi xem luôn luôn cảm thấy những ngọn trào tình cảm cuộn lên làm chảy cả nước mắt trước những đống đổ nát, những chết chóc đau thương của dân mình. Nhưng khi tận mắt thấy, tận tay sờ vào những mảnh pháo đài bay và Thần sấm, Con ma... tan tác trên các cánh đồng ngoại ô và ngay trên các đường phố Hà Nội cũng lại muốn khóc, nhưng khi ấy khóc lên là bởi quá tự hào, quá kiêu hãnh vì dân tộc, vì đất nước mình quá anh dũng và vô cùng bất khuất...

Dường như suốt mấy ngày hôm sau không ít người Hà Nội vẫn còn rủ nhau đi xem máy bay Mỹ bị bắn rơi, nhất là B52. Tuy nhiên không thể đi hết mọi nơi, người ta thường đi tới những nơi gọi là trọng điểm. Một trong những nơi đông người tới xem nhất là cả một khúc đuôi máy bay Mỹ rơi cắm thẳng đứng ngay giữa lòng hồ của làng Hữu Tiệp - Ngọc Hà. Còn thêm mấy nơi nữa: Một mảng B52 rơi ngay bên một chuồng cọp cũ ở vườn Bách Thảo và một mảng cường kích khác rơi tênh hênh ở ngay giữa sân Sở Xe điện Thuỵ Khuê... Đông như đi xem hội. Có cả một số văn nghệ sĩ và nhà báo cũng đi, trong đó có nhóm các ông nhà văn Nguyên Tuân, kiến trúc sư Hoàng Như Tiếp và nhà báo Thép Mới. Nhóm này đến bên mảng đuôi máy bay Mỹ như chỏng thẳng lên, cắm ngay giữa hồ trước đình làng Hữu Tiệp - Ngọc hà. Ba ông bạn cứ say mê ngắm đi ngắm lại mãi. Ngắm cả mấy vườn hoa cục vẫn đang nở vàng rất đẹp quanh đó. Cúc vàng Ngọc Hà -  Hữu Tiệp đã nổi tiếng từ lâu. Nay những vườn cúc vẫn tươi nguyên, thắm vàng y như không phải vừa trải quả một đêm B52 tàn bạo. Ông Tuân cứ theo nheo mắt hết ngắm nhìn mảng đuôi khá lớn của chiếc máy bay Mỹ, lại ngắm những vườn cúc ở ngay kề bên đó. Rồi hóm hỉnh ông nói với hai bạn:

- Này, hai ông ạ! Cái thằng Mỹ nó thế mà cũng biết điều ra phết. Nó đã tự dựng "Tượng đài đại bại" của nó ở giữa cái hồ này, đỡ cho ta khỏi phải dựng tượng đồng bia đá về chiến thắng ở đây nữa. Thế này quá đẹp rồi phải không?

Nói xong, ông nghiêm chỉnh chuyển sang ý khác:

- Mà này, rồi có lẽ bọn ta phải đề nghị lên Bộ Chính trị và Bộ Tổng tư lệnh cho gửi ít nhất là một vài chậu cúc Ngọc Hà ở ngay chỗ “thằng Ních-xơn” bị bắn gục để báo cáo với Bác. Bác là chính là tác giả của những thắng lợi này từ cội nguồn mà!...

Hai ông Hoàng Như Tiếp và Thép Mới không khỏi ngạc nhiên và thú vị về sáng kiến bất ngờ rất hay ấy của ông Nguyễn Tuân. Ông Tuân lại say sưa tiếp:

- Mình sẽ nhờ ông Xuyên Thuỷ chuyển giúp đề nghị này. Chắc sẽ được hoan nghênh. Xưa kia, 200 năm trước, đại thắng oanh liệt 20 vạn quân Thanh trên chính kinh thành này, Nguyễn Huệ, vị Hoàng đế anh hùng áo vải ấy, cũng đã cho quân đem ngay một cành đào Nhật Tân vào tận Phú Xuân để báo tiệp với Ngọc Hân công chúa về chiến thắng vĩ đại Thăng Long! Ta bây giờ cũng phải thế, phải cấp báo tiệp với Bác tối cao của mình chứ!

Nhưng chẳng phải chỉ có mấy nhà văn, nhà báo đã sớm nghĩ ngay tới Bác lúc này, mà Bộ Chính trị, Trung ương và đông đảo nhân dân ngay từ ngày hôm ấy cũng đã nghĩ rất nhiều tới Bác. Và hầu như tất cả mọi người cũng đều rất hào hứng nghĩ ngay tới việc tiếp tục xây Lăng "Đúng rồi, tiếp tục xây Lăng Bác được rồi đấy!". Đâu đâu cũng thấy câu nói như thế hoặc tương tự như thế với tất cả niềm vui và tự hào.

Vui quá, nhiều toán lại rủ nhau trở ra ngoại thành xem tiếp máy bay mà lúc hồi cư về vội quá chưa xem được kỹ. Thế là lại xe đạp, xe máy đèo nhau túa ra các hướng y như trẩy hội mùa xuân. Vừa đi lại vừa nao nức phỏng đoán thế nào cũng sẽ tiếp tục công việc xây Lăng Bác...

Đã đại thắng B52 Mỹ, Tết cổ truyền Quý Sửu lại sắp đến nơi, Hà Nội đã vui càng thêm vui, đã tưng bừng càng thêm tưng bừng, dù cho những vết đạn bom vẫn còn đó thời gian và con người chưa kịp xoá hết...

*

*         *

Đúng như mong ước của dân, chỉ hơn ba tuần sau trận đại thắng B52, các cán bộ trong Ban Phụ trách xây dựng Lăng Bác và cả Ban Chỉ huy công trường 75808 (ký hiệu công trường xây Lăng Bác có từ 1971) đã nhận được giấy triệu tập họp của Phó Thủ tướng Đỗ Mười - người được Bộ Chính trị giao trách nhiệm kiêm Trưởng ban Phụ trách xây dựng Lăng Bác - Giấy mời họp vào buổi tối ngày 29 tháng 1 năm 1973. Tất cả các thành viên được mời họp đều rất mừng và biết ngay là việc gì rồi. Tối hôm đó dù rét khá đậm nhưng trong lòng người ai ai cũng rất ấm. Tất cả tề tựu quanh chiếc bàn họp lớn, dưới ánh đèn sáng choang. Đồng chí Đỗ Mười với gương mặt rất tươi vui, với giọng nói sang sảng, chính thức truyền đạt lại quyết định của Bộ Chính trị về việc tiếp tục xây dựng Lăng Bác. Rồi đồng chí truyền đạt tiếp những chỉ thị cụ thể của đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị - người đã được phân công trực tiếp chỉ đạo công trình xây Lăng. Đồng chí Trường Chinh, nhà lãnh đạo sắc sảo và cũng vô cùng nghiêm cách, cẩn trọng ấy vẫn nhắc và nhấn mạnh lại ý nghĩa rất to lớn của công trình Lăng Bác: “ Đây sẽ là công trình kiến trúc vĩ đại mà trong lịch sử xây dựng của Việt Nam chưa từng có, đòi hỏi chất lượng rất cao, sử dụng nhiều loại vật liệu rất quý hiếm và mới... Lăng Bác sẽ được xây dựng không phải chỉ bằng bàn tay, khối óc của những người trực tiếp tham gia xây dựng mà còn bằng cả trái tim và công sức đóng góp của toàn dân tộc... Công trình này phải được hoàn thành với thời gian sớm nhất. Các chuyên gia hàng đầu tính toán mọi mặt về cả chính trị, cả khoa học, kỹ thuật trình lên, đã được Bộ Chính trị duyệt...".

Các nội dung đã quan trọng lại được truyền đạt một cách hăng say và sôi nổi của đồng chí Phó Thủ tướng kiêm Trưởng ban Phụ trách xây dựng Lăng, làm mọi người càng thêm phấn chấn.

Phổ biến xong mọi việc, đồng chí Phó Thủ tướng lại vui vẻ vừa như động viên vừa như ra lệnh: "Các đồng chí đã rõ cả rồi đấy, phải hết sức quan trọng và cũng hết sức phải khẩn trương.

Mọi người cùng tươi cười thể hiện sự đồng tình và quyết tâm của mình, rồi cùng đi vào bàn thảo những nội dung cụ thể phải tiến hành ngay trước mắt và lịch làm việc tổng quát. Tuy rất vui, rất phấn chấn, nhưng trong thâm tâm không phải không có người vẫn có phần thầm lo: Thời gian 2 năm là căng! Không hiểu dốc sức dốc của ra, rồi có kịp không?... Không riêng các uỷ viên mà cả đồng chí Tổng Tham mưu phó quân đội Phùng Thế Tài và đồng chí Bộ trưởng Bộ Kiến trúc Bùi Quang Tạo cũng ít nhiều cùng tâm trạng như vậy.

Tuy vậy không khí bao trùm vẫn là sự hào hứng và niềm tin tưởng. Công việc quan trọng đầu tiên mà tất cả cùng nhất trí là phải tiếp tục lo tăng thêm nhân lực và "chạy" vật tư. Thật vậy, nhân lực và vật liệu phải có đủ hoặc ít ra là tương đối đủ rồi mới có thể nói tới xây, tới lắp máy... Muôn ngàn công việc lớn nhỏ đang ở phí trước. Ai cũng biết: Trước trận B52 ta cũng đã tập họp được một số nhân lực tốt, kể cả vật liệu, nhưng nay dù có gọi lại được đủ anh chị em cán bộ và công nhân ấy, cũng vẫn còn phải tiếp tục tuyển thêm nữa mới chắc chắn bảo đảm được công việc...

Trước hết là nhân lực! Trong đó nhân lực có kỹ thuật là rất quan trọng. Nếu cần về số lượng thì như trước trận B52 ta đã biết: Chỉ cần hô một tiếng là hàng triệu thanh niên và công nhân sẽ lập tức ghi tên tình nguyện ngay. Nhưng lao động kỹ thuật cần thiết cho một công trình rất lớn và rất hiện đại như Lăng Bác thì đợt tuyển người vừa qua đã thấy rất khó khăn, ngay cả trong quân đội, dù có là công bình đơn vị kỹ thuật. Bên Bộ Kiến trúc nơi tập trung nhiều cán bộ, công nhân kỹ thuật xây dựng nhất, mà tình hình chung cũng đang khó.

Nhưng rồi bàn cũng ra cách: Sẽ xin phép Bộ Chính trị và Chính phủ cho phép cả bên quân đội cả bên Bộ Kiến trúc được đi tuyển mộ thêm, mà lần này không chỉ quanh Hà Nội mà rộng cả cả các tỉnh, đâu có cán bộ, công nhân kỹ thuật có thể tuyển là tuyển luôn. Để cho những người được tuyển phấn khởi, yên tâm làm việc, phía chủ quản cũng dễ quản lý, bên quân đội có thể cho những người mới được tuyển chuyển thành quân nhân. Bên Bộ Kiến trúc cũng thế, cho họ vào biên chế của ngành Xây dựng luôn.

Cụ thể, tất nhiên về nhân sự chủ yếu là lấy thêm ở miền Bắc là rõ rồi. Nhưng riêng về vật liệu xây dựng dù cũng trông cậy ở ngoài Bắc những cũng cần có cả sự đóng góp của đồng bào miền Nam. Trong chiến trường, gỗ, đá quý có nhiều. Chắc chắn khi biết ngoài này bắt đầu xây dựng Lăng Bác, trong đó không cần đợi yêu cầu, bà con sẽ chủ động tìm ngay mọi cách vận chuyển vật liệu ra bằng mọi giá. Tấm lòng đồng bào miền Nam với Bác quá lớn lao, sâu nặng. Còn máy móc cho Lăng - phần cực kỳ quan trọng - tất nhiên chưa thể bàn kỹ lúc này. Phần này rất lớn, một mình ta không thể lo được hết, mà sẽ phải trông cậy khá nhiều - nếu không muốn nói là chủ yếu - ở sự viện trợ hữu nghị của Liên Xô, người Bạn lớn vẫn luôn luôn hết lòng với ta. Tuy nhiên cũng biết không phải thứ gì Bạn cũng có; có cái Bạn sản xuất được, có cái Bạn phải đặt làm ở những nước tư bản. Như vậy có thể thấy, bắt đầu khởi công xây Lăng, cần thiết trước hết và chủ yếu vẫn là nhân lực kỹ thuật và vật tư. Rồi sau đó sẽ còn phải bàn nhiều và lo dần...

Khuya, cuộc họp mới kết thúc với những cái bắt tay rất chặt như để thay thế cho những lời hứa hẹn cam kết, và cũng để bày tỏ niềm tin to lớn, mạnh mẽ...

"Không được chậm trễ! Không được nghỉ nhé!" Nụ cười lại nở rộng, đồng chí Đỗ Mười lại sang sảng đứng trên thềm vui vẻ nói theo mọi người đang khẩn trương ra về trong cái rét diêu diêu cuối năm. Nghe nhắc lại câu nói ấy, dù không ra là mệnh lệnh, cũng không chỉ là lời động viên, nhưng cũng thấy vui ở cái ý, cái tình, mọi người cùng ngoái đầu lại cười theo. Sự đồng cảm làm ấm lòng mọi người.

Mỹ thua quá đau, đã phải chịu ký hiệp định Pa-ri theo những điều khoản của ta, trong đó một điều cơ bản và quan trọng bậc nhất là Mỹ phải nhận rút hết, rút toàn bộ binh lực ra khỏi miền Nam, trong khi đó các lực lượng chiến đấu của ta vẫn ở nguyên như cũ trên chiến trường. Ai ai cũng có thể thấy rõ đây là một thắng lợi vĩ đại. Vậy hoà bình chắc chắn là sẽ lâu dài, trước hết trên miền Bắc, tất nhiên thắng lợi toàn bộ trên cả nước cũng rõ ràng cũng không còn quá xa nữa, vì Mỹ thua đã phải "cút", Ngụy rồi cũng sẽ phải đổ. "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" -  Câu thơ của Bác là những lời tiên tri.

Mùa đông đã qua đi. Giờ đây đã là tháng 3 năm 1973. Nắng mới bừng lên, sáng trời ấm đất, ấm cả lòng người. Quang cảnh Quảng trường Ba Đình đã trở lại nhộn nhịp, xem ra còn đông vui hơn trước nhiều. Bây giờ ngày nào cũng có người: Cán bộ, công nhân, bộ đội công binh tới đo đạc, tính toán. Hơn thế nữa, còn liên tục có những nhóm, những đoàn người áo quần lao động kéo tới làm lán, làm nều cho công nhân ở quanh khu vực để đồ đạc và dụng cụ lao động... Không những thế còn có nhóm dựng cả những căn nhà, dù chỉ là tạm bằng tôn, gỗ, nứa lá ở phía sau quảng trường, sau Phủ Chủ tịch và cả bên Ngọc Hà để đón anh em công nhân các nơi sẽ được điều về xây Lăng.

Trong những ngày này, đồng chí Đỗ Mười đã nhận được báo cáo của cả hai phía quân đội và Bộ Kiến trúc về việc tuyển thâm nhân lực. Phía quân đội, công binh được phân công chủ yếu lo phần lắp máy trong Lăng đã được Bộ Quốc phòng cho phép được đi các quân khu, quân binh chủng tuyển thêm cán bộ, chiến sỹ có tay nghề. Sau hai tháng tuyển chọn, dù được các đơn vị, các chiến sỹ vô cùng nhiệt tâm hưởng ứng, nhưng cũng có khó khăn. vì chọn toàn người có kỹ thuật nên lúc đầu vẫn chưa thể đủ quân số yêu cầu. Vì vậy, phải mở một đợt tuyển chọn thứ hai, tới nay mới có thể mới tạm gọi là "hòm hòm". Quân khu 4 đã tổ chức cho số anh em này về tận Kim Liên quê Bác dâng hương rồi mới ra Hà Nội nhận nhiệm vụ. Quân khu Việt Bắc cũng đã tổ chức cho anh em tới Thái Nguyên thăm Bảo tàng Cách mạng và dâng hương lên Bác rồi mới về Thủ Đô. Phía Bộ Kiến trúc được phân công chuyên trách chủ yếu phần xây dựng cũng đi nhiều tỉnh để tuyển thêm thợ và cán bộ chuyên môn. Nhưng cũng giống như bên quân đội: Người có tinh thần hăng hái thì có thừa, nhưng tuyển thợ có tay nghề, dù chỉ là xây cũng khó. Tuy nhiên, cũng đã tuyển được khá: 1.200 người của 26 tỉnh thành và các Bộ, ngành về tham gia xây dựng Lăng.

Về nhân lực như vậy dẫu sao cũng là vui rồi, về mặt kiếm tìm vật liệu xây dựng cũng nhiều tin đáng mừng. Ai cũng biết một trong những thứ quan trọng là cát xây dựng. Lúc đầu hầu hết anh em trong giới xây dựng đều nói: Cát xây dựng ở sông Lô là tốt nhất. Bộ Kiến trúc đã định tập trung nhân lực cho lên hướng đó khai thác ngay. Nhưng trước công việc xây Lăng Bác to lớn và thiêng liêng, có nhiều người, nhiều nơi đã sốt sắng báo về: Cát xây dựng tốt nhất là cát vàng Kim Bôi. Sở dĩ từ bao năm nay ai ai cũng chỉ biết tới cát sông Lô là do Pháp ngày xưa bảo cát ở đó tốt hơn cả nên cứ tin như thế. Bây giờ khác rồi, ta đã có nhiều người được ăn học cao, có trình độ nghiên cứu sâu đã thí nghiệm và phát hiện ra cát Kim Bôi còn tốt gấp nhiều lần cát sông Lô. Để xác minh, Bộ Kiến trúc đã báo cáo lên Ban Phụ trách xây dựng Lăng rồi cử ngay một nhóm cán bộ chuyên môn giỏi về thẳng Kim Bôi - Hoà Bình trực tiếp khảo sát rồi đem mẫu về Hà Nội xem thực hư ra sao... Sau khi sửa dụng những phương tiện hiện đại và các loại hoá chất cùng làm thí nghiệm, rồi tham khảo cả chuyên gia Liên Xô chuyên về vật liệu xây dựng, anh em mừng rõ báo cáo: Cát Kim Bôi đúng là cát vàng thực. Nắm trên tay mở ra, cát trôi xuống không còn dính lại một hạt, hạt lại rát đều, rất sạch, rất rắn, vốn từ cuội, sỏi ngàn năm tan vụn ra, nhỏ dần mà thành cát, không có pha bất cứ một tạp chất nào... Thế là được phép trên và chính quyền địa phương ủng hộ, anh em công nhân kiến trúc cùng anh chị em thanh niên địa phương đã hợp lực nô nức khai thác. Nam thanh niên ngụp lặn xúc cát dưới lòng con sông nhỏ đổ lên những con thuyền neo ở bến. Các cô gái trên bờ xúc lên đổ thành từng đống cao ở suốt dọc bờ sông. Rồi xe tải tấp nập liên hồi tới bốc chuyển ra Hà Nội hoặc về các nhà máy. Khúc sông nhỏ của huyện Kim Bôi -  Hòa Bình xưa nay vốn hoang vắng, bỗng trở thành một công trường khai thác cát tưng bừng, náo nhiệt.

Niềm vui này đã lớn nhưng còn như được nhân đôi do một sự việc khác liền ngay sau đó: Ấy là khi đó nhà máy Xi măng Hải Phòng còn bị máy bay Mỹ bắn phá tới hàng trăm lần qua nhiều năm nên đã hư hỏng một phần. Nay chắc chắn miền Bắc đã có hoà bình, cần chấn hưng lại nhà máy, hơn nữa đang mong có sản phẩm tốt để xây Lăng Bác nên nhà máy quyết chí tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm để sản xuất ra một thứ xi măng tốt nhất - xi măng đặc biệt.

Gần như cùng dịp ấy, tỉnh Thái Nguyên cũng đưa lên Ba Đình thêm một loại cát xây dựng cũng được ưa chuộng từ lâu: Đó là cát Thanh Xuyên - Thái Nguyên. Nếu như cát Kim Bôi vàng óng, sạch và không tạp chất, thì cát Thanh Xuyên lại trắng gần như đường kính. Chất lượng cát Thanh Xuyên cũng đã được kiểm nghiệm không thua kém cát Kim Bôi nhiều lắm, nên được chọn để sản xuất bê tông cường độ cao xây Lăng Bác.

image.png

Về đã xây dựng, cũng đã có báo cáo về đá granít xám, trắng ở mỏ Hoàng Thi - Thác Bà - Yên Bái rất tốt nên được chọn làm đá bê tông. Đá cuội ở Sơn Dương, Chiên Hoá - Tuyên Quang cũng rất đẹp, rất rắn. Còn cả đá nhồi - Thanh Hoá nữa, cũng đã nổi tiếng từ lâu. Đá nhồi màu xanh xám. Vua Chúa nhà Hồ, nhà Lê xưa đã dùng đá nhồi để xây lâu đài, thành quách. Thanh Hoá còn có cả đá trắng ở núi Lở, chất lượng không kém đá trắng quý hiếm của nước Ý. Cả đá vàng, đá đỏ ở Cẩm Vân nữa. Hà Tây (cũ) thì có đá cẩm thạch vân hoa rất đẹp. Cao Bằng có đá ngọc màu mận chín, vừa đẹp vừa quý. Vĩnh Linh cũng có đá mun màu đen rất sang. Sơn La có đá đèo chẹn xanh mơ khá quyến rũ. Nam Định có đá phú nhoi màu vàng cũng hấp dẫn. Còn Điện Biên Phủ - địa danh đã nổi tiếng toàn cầu cũng có đá granít rắn gần như đá hoa cương... Tóm lại không thiếu đá quý để xây Lăng Bác...

Ở vòng ngoài thì thế, vòng trong - Hà Nội, Bộ Kiến trúc và Ban Chỉ huy công trường 75808 cũng được sự phối hợp, giúp đỡ rất nhiệt tâm của các Bộ khác như Giao thông vận tải, Cơ khí luyện kim... đã huy động, tập trung được một số thiết bị cơ khí cần thiết như cần cẩu, xe tải, xe ben, máy nổ, máy xúc, búa máy, máy cưa, máy xẻ... để sẵn sàng phục vụ, dù toàn đồ cũ, đồ cổ, nhưng có còn hơn không. Đồng thời, cũng đã sớm nhận được những xúc, những cây gỗ quý như: Lim xanh, trắc, chò, sưa, táu... từ Việt Bắc, Đông Bắc, Trung Du và Khu 4 gửi về.

image.png

Không khí chuẩn bị nhân lực, vật tư ở các địa phương ngoài Bắc đang rất khẩn trương. Bộ Chính trị, Chính phủ được Ban Phụ trách xây dựng Lăng báo cáo, rất hài lòng. Vui và cảm động nữa là Đảng và Chính phủ cũng luôn luôn nhận được tin của nhiều địa phương và các chiến trường trong Nam từ Trị Thiên tới Liên Khu 5, Khu 6 qua Tây Nguyên, vào tới miền Đông, miền Tây Nam Bộ những bức thư và những bức điện gần như cùng chung một ý gửi ra: Được biết Trung ương đã có quyết định tiếp tục xây Lăng Bác, trong này tất cả bà con cô bác, quân và dân trong chiến trường đều vô cùng vui mừng. Dù bom đạn của Thiệu vẫn rất các liệt, thậm chí nay còn điên cuồng hơn, chúng đánh phá các cơ sở của ta, lấn chiến các vùng giải phóng dữ dội, quân dân ta đã quyết chiến đấu vừa đánh bại nốt tên hung ác này vừa dành thời gian để kiếm tìm và gửi ra gỗ quý, đá quý để góp phần xây "Ngôi nhà" của Bác Hồ. Đã có nơi nêu khẩu hiệu: "Tìm được gỗ hoặc đá quý gửi ra xây Lăng cũng coi diệt được giặc lập công dâng Bác". Nay có nơi báo cho biết đã sớm tìm được gỗ quý hoặc đá quý rồi, đang tìm cách để chuyển ra, dù cho bom đạn địch rất ác liệt và núi cao, sông lớn trung trùng. Nhưng chắc chắn sẽ có gỗ và đá quý đưa ra để xây Lăng Bác.

Mỗi lần nhận được những bức điện như thế, đồng chí Lê Duẩn đều xúc động đưa cho hai đồng chí Đống Ngạc và Đậu Ngọc Xuân (hai thư ký của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng) rồi nói: "Các anh xem đi! Trong khói lửa, mà tấm lòng của đồng bào ruột thịt của chúng ta với Bác như thế đó...".

Tới tháng 5 năm 1973, Thiệu càng điên cuồng chống phá ta. Bộ Chính trị đã quyết định mời các đồng chí lãnh đạo và cả các tướng lĩnh chiến trường miền Nam ra họp, từ đồng chí Phạm Hùng, Nguyễn Văn Linh, Võ Chí Công, Chu Huy Mân... để trao đổi và thống nhất đánh giá, nhận định về tình hình miền Nam từ sau Hội nghị Pa-ri tới nay, và bàn các đối sách tốt nhất. Cuộc họp cũng để chuản bị cho Hội nghị Trung ương 21 rất quan trọng dự định sẽ họp vào tháng 7 năm 1973 sắp tới, nhằm tổng kết cả giai đoạn 18 năm chống Mỹ và đưa ra phương hướng chỉ đạo cơ bản cho thời kỳ mới, quyết đánh bại hoàn toàn ngụy quyền tay sai Mỹ, hoàn thành Cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Hội nghị Trung ương 21 mở rộng cũng sẽ bàn và quyết định tiếp tục đẩy mạnh việc hoàn thành xây dựng Lăng Bác dù vật tư thiết bị vẫn còn thiếu nhiều nhưng sẽ phải gắng khắc phục dần dần.

 Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã căn cứ vào tư tưởng chỉ đạo quan trọng này, chính thức ra quyết định cho Ban Phụ trách xây dựng Lăng: Ngày 02 tháng 9 năm 1973 sẽ chính thức khởi công xây Lăng Bác. Ngày 02 tháng 9 năm 1975 sẽ chính thức khánh thành. Xây Lăng Bác và cải tạo, mở rộng Quảng trường Ba Đình cùng làm một thời gian.

Trên cơ sở quyết tâm lớn và chỉ thị ấy, đồng chí Lê Thanh Nghị, Phó Thủ tướng đã ngay sau đó gửi tiếp thư sang Liên Xô, thông báo Việt Nam đã quyết định tiếp tục mọi công việc xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thông báo cụ thể cả ngày khởi công cùng ngày hoàn thành. Thư cũng chính thức nhắc lại đề nghị Liên Xô nối lại viện trợ, đề nghị Bạn gửi ngay sang cho các thiết bị vật tư như đã thoả thuận trước đây, đồng thời cũng yêu cầu tiếp tục cử chuyên gia thay nhau sang Việt Nam giúp xây Lăng Bác cho đến khi hoàn thành.

Thư gửi đi đã khá lâu, quá thời hạn phúc đáp thường có như trước đây.

Các đồng chí lãnh đạo của ta phán đoán: Hẳn Bạn có khó khăn nào đó, chứ tình hữu nghị hai bên là quá tốt. Còn nhớ năm 1970, khi mới có chủ trương xây Lăng Bác, ta cử đại biểu sang Liên Xô đề nghị giúp đỡ. Bạn đã hứa hết lòng. Đồng chí Brê-giơ-nép -  Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô sau đó còn có thư gửi Đảng ta (năm 1970), trong thư có những lời rất tốt đẹp, chí tình "... Chính phủ Liên Xô đã có chỉ thị giúp đỡ về mặt kỹ thuật trên những vấn đề cụ thể với nước Việt Nam Dân chủ công hoà trong việc thực hiện những công việc cần thiết.

Thực hiện sứ mạng đó, Đảng Cộng sản Liên Xô và toàn thể nhân dân Liên Xô đồng thời tỏ lòng kính trọng sâu sắc của mình đối với hương hồn đồng chí Hồ Chí Minh, người con trung thành và người lãnh đạo lớn của Việt Nam, người Mác-xít - Lênin-nít kiên cường, người chiến sỹ theo chủ nghĩa quốc tế vô sản bất khuất và người bạn lớn của nhân dân Liên Xô...".

Vậy các đồng chí bên ấy chưa trả lời ngay những yêu cầu khá khẩn trương của Việt Nam, chắc là Bạn đang có khó khăn gì đây? Quả nhiên, sau đó nhận được trả lời của Phó Thủ tướng Nô-vi- ôp. Đại ý là trước hết các đồng chí Liên Xô xin ta thông cảm vì Bạn còn phải xem xét lại cẩn thận mọi việc. Nay Trung ương Đảng và Chính phủ Liên Xô rất lấy làm tiếc chính thức phúc đáp lại rằng không thể đáp ứng được đủ ngay những yêu cầu hiện nay của Việt Nam. Lý do là hồi cuối năm ngoái (tháng 12 - 1972) điện và công văn của Việt Nam gửi sang Liên Xô báo tạm hoãn xây Lăng Bác vì Mỹ ném bom trở lại, nhưng trong công văn chỉ nói là tạm hoãn "Một thời gian", mà không có dự kiến cụ thể khi nào sẽ tiếp tục. Vì thế trong kế hoạch toàn bộ của Liên Xô năm nay (1973) không có danh mục nào về việc giúp Việt Nam xây Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bây giờ Việt Nam mới báo lại, Liên Xô gặp nhiều khó khăn cả trong nguyên tắc, cả trong thực tế về điều chỉnh các kế hoạch. Hơn thế nữa, hàng năm bản thiết kế kỹ thuật cụ thể về Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh mà các chuyên gia Việt Nam cùng chuyên gia Liên Xô tiếp tục hoàn thiện, nhưng vừa qua các bản thiết kế đó hiển nhiên cũng đã phải tạm dừng, nên nay chưa hoàn tất ngay một cách mau lẹ được.

Bấy giờ mới rõ. Các đồng chí lãnh đạo Việt Nam thừa nhận sự trục trặc này đúng là do mình vì khi thông báo tạm ngừng, chúng ta đã không thông báo cho Bạn dự kiến cụ thể khi nào thi nối lại công việc. Bên Bạn đã quen làm việc theo tác phong công nghiệp quen nên cái gì cũng phải rất cụ thể, chính xác.

Thế là lại phải bàn. Rồi một quyết định mang tính khẩn trương "Chữa cháy" đã được đưa ra. Đồng chí Vương Quốc Mỹ , khi đó đã được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Kiến trúc kiêm Chỉ huy trưởng công trường 75808, lập tức lại được phái sang Liên Xô trình bày chi tiết mọi việc, nhất là quyết tâm của Đảng ta căn cứ vào lòng dân tiếp tục xây Lăng Bác. Ông Vương Quốc Mỹ không khỏi lo lắng chưa biết kết quả sẽ ra sao. Nhưng các đồng chí trong Bộ Chính trị của ta đã nhấn mạnh tới uy tín và tình cảm lớn của Bác Hồ với Liên Xô và cả thế giới để đồng chí Mỹ vững tin vào chuyến đi...

Yên tâm hơn, dù vẫn còn không ít hồi hộp, ông Mỹ khẩn trương bay đi ngay. Trong khi ấy ở "nhà", để phối hợp, đồng chí Đỗ Mười, Phó Thủ tướng cũng điện cho Đại sứ Võ Thúc Đồng ở Mát-xcơ-va hết sức giúp đỡ đồng chí Vương Quốc Mỹ trong nhiệm vụ quan trọng này, đồng thời báo với Liên Xô là ta sẽ cử sang một đoàn chuyên gia của ta sang đó để cùng các chuyên gia Liên Xô tiếp tục hoàn thiện các bản thiết kế kỹ thuật, nhằm sớm có thể đưa vào sản xuất.

Và Hà Nội lại chờ, lại suy nghĩ về tất cả mọi tình huống thuận lợi, không thuận lợi.

Một ngày. Rồi hai ngày. Rồi gần hết một tuần, cuối cùng thì điện từ Mát-xcơ-va cũng đã bay về: Liên Xô đã nhận lời. Ôi! Quả là phải có tình thần quốc tế vô sản và tình nghĩa gắn bó bao năm, lòng kính yêu đặc biệt với Bác Hồ, Bạn mới có thể cố gắng và tìm ra được các phương sách để giúp ta... Và Liên Xô đã hứa là các đồng chí ấy sẽ nghiêm túc thực hiện. Tất cả các đồng chí lãnh đạo của Đảng ta thực sự rất mừng.

Sau đó, gần như ngay tức khắc, một đoàn cán bộ khoa học kỹ thuật của Bộ Kiến trúc và Bộ Tư lệnh Công binh gồm những kiến trúc sư, kỹ sư có uy tín, tay nghề giỏi được cử sang Liên Xô để phối hợp cùng các chuyên gia Liên Xô hoàn tất các bản thiết kế kỹ thuật.

Thời tiết Mát-xcơ-va đang vào mùa đẹp, lại được các Bạn chuyên gia Liên Xô đón tiếp rất thân tình, đoàn Việt Nam bước xuống sân bay hết sức phấn chấn. Nhưng các đồng chí ta đề nghị được bắt tay ngay vào việc, không cần nghỉ. Mỗi ngày làm việc với Bạn 7 giờ, tối về lại họp tổ. Rất bận rộn và vất rả. Tuy nhiên, tinh thần mọi người trong đoàn ta vẫn hoàn toàn tốt. Trong quá trình làm việc với chuyên gia Bạn đôi khi cũng gặp những vấn đề phải tranh luận, nhưng phần nhiều là các vấn đề và chi tiết thuộc về đề văn hoá, tính dân tộc hoặc đặc điểm địa lý, khí hậu mà hai nước có những điểm không hoàn toàn giống nhau, nên các chuyên gia Bạn không hiểu hết. Do đó cũng dễ đi tới thống nhất ý kiến trong tinh thần đoàn kết và tôn trọng lẫn nhau. Cho tới tháng 9, đoàn ta đã có bản thiết kế về nền, móng hoàn chỉnh - bản thiết kế cần thiết đầu tiên. Cả đoàn vẫn tiếp tục ở lại làm việc tiếp với chuyên gia Bạn về các bản thiết kế khác thuộc hai phần quan trọng nhất là xây dựng và lắp máy.

Nhận được bản thiết kế nền, móng hoàn chỉnh, ở nhà điện sang rất cảm ơn Bạn, đồng thời cũng đề nghị Bạn gửi ngay sang giúp ta một số chuyên gia đóng cọc bản thép cùng một số cọc bản thép nữa. Chuyên gia và vật liệu chuyên dùng ấy ở Việt Nam hiện đang gần như hoàn toàn thiếu. Lại yêu cầu Bạn cũng gửi ngay một số máy bơm hút nước cho các hố móng, vì mùa mưa ở Việt Nam sắp đến rồi. Bạn vui vẻ trả lời sẽ gắng lo liệu đáp ứng.

Khi ấy ở trong nước, dù luôn luôn phải yêu cầu Bạn giúp những chi tiết do ta còn nhiều thiếu thốn, nhưng các cấp lãnh đạo của ta vẫn nhấn mạnh tới ý thức chủ động và tinh thần tự lực, tự cường, dốc lòng dốc sức trong mọi việc, nhằm huy động cho được những vật tư, thiết bị cần thiết sẵn có trong nước dù có cũ kỹ "già lão", quyết không có tư tưởng ỷ lại. Đúng như vậy, ngay từ những buổi đầu, Ban Phụ trách xây dựng Lăng theo chủ trương của trên đã kêu gọi tất cả các nơi chung lòng chung sức đóng góp xây Lăng. Kết quả: Nhiều thiết bị các loại lớn, nhỏ từ các địa phương đã được nối tiếp nhau tình nguyện đưa về Ba Đình bằng đủ các phương tiện: Ô tô, tầu thuyền, thận chí nơi gần dùng cả xe thồ... Nhiều địa phương, đươn vị sẵn sàng giúp đỡ công trường xây dựng Lăng khi có yêu cầu, như Ninh Bình đã rút ra từ một xí nghiệp quan trọng nhất của mình một máy cán thép - thứ đang rất hiếm ở miền Bắc khi đó để đưa lên công trình xây Lăng. Công trường nhà máy Gia Sàng - Thái Nguyên cũng ra sức gia công vỏ nhôm bảo ôn cho các ống nước sẽ dùng cho Lăng, và cho mượn cả những vật tư, công cụ nhỏ nhu pa lăng, tời, máy đánh gỉ sắt, máy cuộn tôn thép... Cơ khí điện ảnh Bộ Văn hoá, Xưởng Quân giới X10, Tổng cục Hậu cần quân đội đã nhận sản xuất cho Lăng hàng chục vạn bộ bu-lông, đai ốc có chất lượng cao để liên kết các ống hơi, ống nước của công trình. Đặc biệt, biết công trường Lăng đang cần ngay những cọc bản thép để kè đất chống lở, chống thấm khi đào hố móng cho Lăng, cảng Hải Phòng đã nhớ ra mình cũng có một số cọc bản thép vẫn để kè các bến cảng, nay thấy Ba Đình cần mặt hàng hiếm có này mà cọc của Liên Xô chưa kịp sang, Ban Chỉ huy Cảng đã tranh thủ cho anh em đi vét, tập trung các cọc bản thép của mình ở các nơi, đưa lên Hà Nội được 200 cọc. Hải Phòng còn gửi thêm một búa hơi cũng đang là của rất quý hiếm của Cảng. Và để mau chóng chuyển về Ba Đình những vật tư lớn nhỏ ấy, tất cả các bến xe lửa, xe hơi, nhất là các cảng biển và cảng sông lớn, nhỏ đều dành quyền ưu tiên hàng đầu cho các hàng về Lăng. Hàng quốc tế không thuộc công tình Lăng nhiều khi cũng phải để lại sau, nhường cho hàng của Lăng bốc dỡ trước. Các vật tư gửi về công trường cùng chung một khẩu hiệu "Tất cả cho ngày khởi công xây dựng Lăng Bác".

Nhưng không phải toàn chỉ có xi măng, sắt thép, cát sỏi, máy nọ máy kia, cũng đã có một số gỗ quý của một số địa phương ngoài Bắc đã sớm được đưa về. Gỗ Tây Bắc, Đông Bắc, gỗ Việt Bắc, gỗ Khu 4, Quảng Ninh, Móng Cái... Những xe gỗ lim đồ sộ, những xe gỗ trắc to lớn, tất cả đều nặng nề và cồng kềnh... Gỗ nói chung thường được chở bằng đường sông hoặc đường biển như từ Quảng Ninh hoặc Nghệ An, Quảng Bình... ra, nhưng cũng có nơi chở theo đường bộ, nhân dân nhiều nơi bên đường biết là xe gỗ về xây Lăng Bác đã kéo ra hoan hô, xe gặp lầy giúp chống lầy, gặp dốc giúp vượt dốc... Về tới Hà Nội, những xe gỗ ấy được phép đi qua các phố đông đúc để vào thẳng công trường Ba Đình. Trên một số xe có cả những cô gái, chàng trai các dân tộc khác nhau như: Mường, Tày, Nùng, Cao Lan, Sán Chỉ... với vòng bạc, vòng đồng và áo quần màu sắc rất bắt mắt, trẻ em và cả học sinh chạy theo vẫy chào, vui như đi xem văn công.

*

*      *

Cùng thời gian này, trong các chiến trường còn đầy khói lửa, miền Đông, miền Tây Nam bộ, Tây nguyên, Khu 6, Khu 5, Quảng Đà, Bình Định, Phú Yên... song song với nhiệm vụ chiến đấu là công việc kiếm tìm vật tư, vật liệu gửi ra Lăng Bác đã gần như trở thành phong trào "Vừa đánh Mỹ - Thiệu, vừa thi đua kiếm gỗ quý, đá quý để góp xây Lăng Bác”.

Nhưng không phải bây giờ bà con cô bác và chiến sỹ trong đó mới sôi nổi lo kiếm gỗ, đá quý gửi ra xây Lăng Bác, mà ngay từ năm 1970, sau khi Bác mất không lâu, biết có chủ trương xây Lăng Bác, trong chiến trường Quảng Đà, các cơ sở Đảng cùng bà con dân tộc đã luôn luôn bàn làm sao có đá quý, gỗ quý để đem ra Bắc góp xây Lăng. Quân và dân Quảng Nam đã tìm mọi cách phá vòng vây địch vào núi Non Nước, gần sân bay Nước Mặn, chọn một số núi đá màu xám có vân đẹp, khiêng lên Trường Sơn, cho xe vượt hươn 900km trở ra Hà Nội.

Ở Phú Yên, đồng bào và các chiến sỹ giải phóng quân cũng nhiều ngày lặn lội vào rừng sâu, lên núi lớn thuộc huyện Sơn Hoà và miền Tây của tỉnh. Một đoàn gồm cán bộ, dân quân du kích, đại biểu thanh niên, phụ nữ và không thể thiếu các già làng, đã cùng nhau đi tìm những cây mun rất quý. Hai ông người dân tộc: Y Khưu và Sô Man là hai người chuyên dẫn đường tinh khôn và can đảm nhất. Đoàn đi tìm gỗ cơm đùm muối bọc băng rừng lội suối, leo lên những ngọn núi cao và hiểm trở trong vùng như Hòn Nhọn, Hòn Bà, Hòn Bố... cực kỳ vất vả. Hơn một tuần rồi mà chưa tìm thấy mun, lương thực đã gần hết, nhưng đồng bào vẫn và chiến sỹ ta vẫ cứ đi tiếp, quyết tâm đói sẽ ăn củ rừng. Không một ai chịu về. May sao giữa lúc đó Huyện đội đã kịp cho người phi theo, lên báo: Ở hướng bên có ông Lang Sơn ở buôn Suổi Trâu xã Sơn Hội cùng một số cán bộ đã tìm thấy mun... Thế là khóc mà reo lên: "Bác Hồ thiêng quá! Bác giúp ta đó!".

Nam Bộ cũng có nhiều gỗ rất quý hiếm, nhất là gỗ nu, loại gỗ được coi như "Chúa tể". Gỗ Nu có ở miền Đông nơi bạt ngàn rừng cao su, nhưng cũng có cả ở rừng sâu. Nay quân dân miền Đông cũng hết lòng và không công sức đã tìm được ra nu. Lộc Ninh là trọng điểm tìm kiếm. Những cây nu hàng trăm tuổi, to, cao, xanh ngắt nom như những thần cây. Đặc biệt trên thân cây nào cũng có hàng trăm vết đạn bom Mỹ Thiệu. "Nu đây rồi!", "Vàng mười đây rồi để dâng Bác!" Nhiều ba con và chiến sỹ cùng ôm lấy cây mà reo lên mãi.

image.png

Và đồng bào Thượng ở Tây Nguyên cũng như vậy, luôn tâm niệm: "Đánh giặc cũng phải tìm được cái gỗ quý, cái đá quý để xây nhà Bác Hồ chứ!". Một ngày đầu năm 1973, Bí thư Tỉnh uỷ Gia Lai là đồng chí Bình về Sơn Lang họp với bà con, hỏi: "Bà con Sơn Lang có ai xung phong đi kiếm gỗ quý gửi ra Bắc để góp xây Lăng Bác Hồ không?". Đồng bào hỏi lại: "Lăng là cái chi?". Sau khi nghe giải thích, đồng bào cùng thốt lên: "Thế thì phải góp gỗ tốt nhất để làm cái nhà cho Bác. Đánh xong thằng Thiệu, còn ra Bắc thăm Bác chứ!”. Trúng cái bụng bà con rồi!... Rừng KBang khi ấy còn là rừng nguyên sinh, nghe nói có loại gỗ quý là trắc. Thế là dân Sơn Lang kéo đi khai thác luôn. Đồng bào khua chiêng, phất cờ đỏ sao vàng vui như đi hội. Xã đội trưởng Đinh Rúp nổi tiếng can trường và rất khoẻ, đã cho cả cậu con trai mới 11 tuổi đi theo. Đinh Rút cười: "Hắn nói hắn là cháu Bác mà, xin đi. Vậy cho nó đi thôi!". Người đem theo gạo, người đem theo củ mì. Thức ăn chỉ có măng rừng. Núi rất cao, rừng rất rậm. Leo đèo vượt suối hết sức gian khổ. Nhưng không hề nghỉ. Các ngọn núi cao nhất như Chơ Răng, Kon Ka... đều lên hết. Và cuối cùng đã tìm thấy trắc. Lạy Thần rừng xong, hạ luôn. Nhưng trắc quá rắn. Có những nhát rìu chém xuống như toé lửa. Phải dùng tới búa lớn. Cuối cùng trong tiếng reo hò, bà con ta đã hạ được trắc, hết cây này tới cây khác. Mỗi cây dài tới 4 hoặc 5m, đường kính có cây to quá, dài quá, phải cưa ra thành hai, ba khúc lớn... Tìm gỗ đã vô cùng gian lao, nhưng chuyển được gỗ xuống tới nơi tập kết còn gian nan hơn nhiều. Xuyên rừng, qua sông... nhất là qua những đồn bốt của Thiệu luôn luôn phải sẵn sàng tử chiến để bảo vệ  gỗ. Rồi vẫn chỉ với những đôi vai, những cánh tay trần cùng với đòn xeo, thừng chão, khá lắm đôi nơi mới có được trâu của dân bản kéo giúp, cuối cùng bà con cũng đưa gỗ tới vùng giáp ranh của Quảng Ngãi, và từ đó ra đường Trường Sơn - con đường chiến lược, nay dù đã được mở mang và có thêm pháo phòng không vào yểm trợ, nhưng vẫn đang còn là con đường lửa máu, xe vẫn cháy, người vẫn hy sinh, hàng vẫn có khi tan nát, hoặc mất trắng...

*

*      *

Đã vào hè. Trời đất đã qua những ngày mưa phùn ẩm ướt và qua cả cái rét "nàng bân" diêu diêu đầy gợi cảm cho các thi nhân. Nay nắng mới đã bừng lên làm lòng người cũng như vui thêm, nhất là ở công trường 75808 vẫn đón nhận những tin tức rất đáng khích lệ trong chiến trường về chiến đấu, và cả việc đồng bào vẫn hết lòng tiếp tục đi kiếm tìm gỗ, đá quý. Ngoài Bắc, cũng chẳng kém tin mừng và phấn khởi trong các việc chuẩn bị nhân lực và vật liệu để khởi công phần xây Lăng Bác. Rất sôi nổi và rộng lớn. Dù kết quả chưa phải đã thật hoàn hảo, nhưng bước đầu như thế đã là khá tốt. Ban Phụ trách xây dựng Lăng Bác đã quyết định đề nghị lên Bộ Chính trị cho dỡ lễ đài cũ ở Quảng trường Ba Đình để bắt đầu khởi công xây dựng.

Ngày 16 tháng 6 năm 1973, một số đồng chí trong Bộ Chính trị đã gặp nhau ở ngay lễ đài cũ tại Quảng trường để xem xét lại toàn bộ công việc chuẩn bị cho khởi công xây Lăng và cân nhắc đề nghị của Ban Phụ trách xây dựng xin dỡ bỏ lễ đài cũ. Các đồng chí lãnh đạo rất vui thấy mọi việc đã tiến triển rất tốt, trước hết là do nhân dân trên cả nước từ Bắc tới Nam vô cùng nhiệt tâm ủng hộ và góp công, góp sức, cùng với sự giúp đỡ chí tình chí nghĩa của các Bạn Liên Xô. Các đồng chí lãnh đạo của Đảng đã đồng ý tháo dỡ lễ đài bây để triển khai công việc.

Qua ngày hôm sau, ngày 19 tháng 6 năm 1973, đúng 7 giờ 30, lễ dỡ đài cũ ở Quảng trường Ba Đình được bắt đầu.

Gọi là lễ hoặc buổi chính thức tuyên bố và phát lệnh dỡ lễ đài cũ cũng đúng. Nghi thức giản dị nhưng vẫn rất long trọng vì thành phầm tham dự toàn là những đồng chí lãnh đạo của Đảng và Chính phủ như các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Xuân Thuỷ... cùng Ban Phụ trách xây dựng Lăng và Ban Chỉ huy công trường 75808. Một số chuyên gia Liên Xô đã sớm sang làm việc giúp ta từ lâu hôm nay cũng có mặt như Tổng công trình sư Mét-vê-đép - Trưởng đoàn chuyên gia thi công và kiến trúc sư I. Sa-cô-vich Ga-rôn tác giả chính đồ án thiết kế Lăng Bác và đồng chí Vũ Kỳ, người thư ký tuyệt đối trung thành của Bác trước đây. Ông Vũ Kỳ vẫn theo gương giản dị của Bác, mặc một bộ đồ bà ba vải nâu, đi guốc mộc, nhưng từ khi Bác qua đời ông đã để một hàng ria trên mép. Ông luôn có mặt ở quảng trường này để giúp các đồng chí trong Ban Chỉ huy xây dựng nắm tình hình chung, hôm nay tất nhiên ông càng không thể vắng mặt. Ông không khỏi xúc động, buồn rầu nhớ lại hình ảnh Bác gần 30 năm qua như đã gắn liền với lễ đài này... Thiêng liêng biết bao! Bây giờ lễ đài này sẽ bị phá dỡ đi, tất nhiên là để xây dựng một công trình to đẹp gấp nhiều lần và Lăng vẫn có có lễ đài kết hợp, nhưng dẫu sao ông Kỳ vẫn không khỏi có phần tiếc nuối. Thế rồi đồng chí Trường Chinh thay mặt Bộ Chính trị phát biểu. Vẫn với cách nói trang nghiêm, khúc triết nhưng hôm nay còn cả niềm xúc động. Trước hết đồng chí nhắc lại công ơn trời biển của Bác với Tổ quốc, với nhân dân ta, sau đó nói tới chủ trương xây Lăng Bác là hoàn toàn hợp với nguyện vọng vô cùng tha thiết của toàn dân từ Bắc tới Nam và cả kiều bào ở nước ngoài.

Những người đứng quanh lễ đài lắng nghe, và cũng như ông Kỳ, nhiều người cùng rớm lệ nhớ Bác...

Sau đó công việc phá dỡ bắt đầu với những xe cần cẩu và máy xúc đã túc trực sẵn. Khi những tiếng búa vang lên và khói bụi bắt đầu bay mờ, phần trên lễ đài bị phá trước. Đồng chí Trường Chinh bỗng yêu cầu ngừng lại một chút, để đồng chí bước lên chỗ trước đây hàng năm cứ vào dịp Quốc khánh ngày 2 tháng 9, Bác vẫn đứng đó đọc diễn văn và cầm chiếc mũ cát đã cũ vẫy chào đồng bào. Lên đúng chỗ cũ đó, đồng chí Trường Chinh cúi xuống trân trọng bê lên mảng gạch hoa vẫn như vẫn còn ấm dấu chân Người, nay đã trở thành di vật lịch sử để trao cho Ban Chỉ huy công trường đưa vào Bảo tàng Cách mạng... Cử chỉ bất ngờ nhưng quá đẹp và có ý nghĩa rất sâu sắc ấy của đồng chí Trường Chinh đã làm cho không khí buổi tháo dỡ lễ đài cũ càng thêm trần đầy tình nghĩa. Mọi người đều như cảm thấy Bác đang trở về nơi đây và với cặp mắt sáng láng đầy tình thương yêu, Bác như đang lặng nhìn những đồng chí, những chiến sỹ, những người em, những người con, những người cháu yêu quý của mình.

*

*      *

Cho tới sáng hôm sau, đi qua quảng trường, mọi người đều thấy đã có một hàng rào tre nứa, được dựng lên có lẽ từ trong đêm, vây kín hết. Nhìn qua hàng rào thấy đã có nhiều xe ủi, cần cẩu, cùng các xe tải: Ben, Giải phóng, Gấu... Ai ai cũng phẫn khởi: "Ôi, hay quá, đúng là bắt đầu khởi công xây Lăng rồi bà con ơi! Chờ mãi, nghe nói mãi" Có người tự hào như mình đã biết rõ tất cả mọi việc: "Thế là thời kỳ chuẩn bị đã xong rồi đấy các vị ạ! Hôn nay là chính thức đi vào thi công đây!"...

Tuy nhiên không phải là đã có thể thi công ngay hôm đó, mà công việc thu dọn mặt bằng còn phải làm mấy hôm nữa.

Cho tới ngày 10 tháng 8 - 1973, Ban chỉ huy công trường được sự đồng ý của trên cho bắt đầu tiến hành công việc đầu tiên là đóng các cọc bản thep và đào hồ móng của công trình sẽ tiếp theo. Các hố móng sẽ được đào ở phía trong, cách khoảng 5 m với hàng rào cọc bản thép.

Các cọc bản thép dài 2 mét, dẹt, to bản 20 Chào mừng các vị đại biểu , hai bên mép có những móc ngoàm để móc vào nhau rất kín, sẽ cùng tạo thành một bức tường thép đượcd dóng ngập xuống mặt đất bao quanh cả khu vực móng, nhằm chống đất giãn nở và chống nước ngầm rỉ vào các chân móng gây tác hại Kỹ thuật mới này thế giới đã làm từ lâu, nhưng ở nước ta chưa hề có. Quan trọng như xây trường Nguyễn Ái Quốc cũng chưa có...

Anh em công nhân được giao làm nhiệm vụ đóng cọc bản thép là một đội công nhân trẻ ưu tú của Cảng Hải phòng (sau đó ít ngày, để đẩy nhanh tốc độ thi công hơn nữa, công trường đã tổ chức thêm một đội thợ của Công ty xây dựng bộ Kiến trúc) cả hai đội đều hoàn toàn chưa quen với kỹ thuật này, dù đã được huấn luyện trước một ngày, nên bước đầu vào việc khá vất vả. Vất vả thêm nữa là dịp này rất nắng, như đổ lửa. Mồ hôi như tắm suốt ngày. Mặt mày anh nào cũng cháy đỏ. Thêm khó khăn nữa là có hai búa máy đã cũ, một cái mới "Vào trận" được mấy hôm đã hỏng nẳng phải đưa đi đại tu. Cấp trên đã điều tơi cho một chiếc túa rung, nhưng cũng đã "Bô lão" cả.

image.png

Tuy nhiên, anh em đã làm việc hết sức hăng say dưới nắng lửa cùng mấy chiếc búa máy ấy. Lo chậm, anh em đều tình nguyện xin làm cả những ngày chủ nhật. Do đó năng xuất cũng lên dần, lúc đầu chỉ trên dưới 4 cọc/ca, sau lên dần tới 21 cọc/ca, rồi 34 cọc/ca...

Ông Bé kỹ sư - người xứ Quảng, rất hiền hậu, vốn là bạn học cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp khi xưa. Tập kết ra Bác, nay ông là phó ban chỉ huy Công trường, ông trực tiếp theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, động viên hai đội công nhân cọc bản thép này. Ông hết sức cảm động trước tinh thần làm việc của các chàng thợ trẻ. Ông luôn luôn cổ vũ họ làm việc, giúp đỡ họ những lúc khó khăn. Ông săn sóc họ như cha thương con. Chính ông đã đề nghị tổ chức thêm đội thứ hai để đảm bảo thời gian và anh em khởi phải vắt đến kiệt sức để hoàn thành công việc. Bỗng một hôm, trời còn đang nắng gắt, một cậu thợ trẻ đang lao động cùng chiếc búa hơi nom thấy ông đi tới, la lên:

- Thủ trưởng ơi, sắp có mưa lớn đấy, ,có thể mưa dài ngày nữa...

Ông Bé dừng lại và nhận ra cậu ta vốn là con nhà chài ở Cát Hải - Hải Phòng. Vậy cậu ta kêu là sắp mưa chắc không phải chuyện đùa. Con nhà chài rất thạo nắng mưa. Quả nhiên, ngay chiều hôm ấy mưa lớn ào ạt đổ xuống. Cả công trường như bị vùi dập dưới màn mưa trắng trời trắng đất. Ông Bé nói với các đội trưởng cho anh em tạm nghỉ tay. Nhưng tất cả vẫn xin tiếp tục làm việc. Anh em đã hiểu được công việc, biết thời gian không cho phép hộ dềnh dàng....

Ngày mưa. Đêm vẫn mưa. Hôm sau và hôm sau nữ tiếp tục mưa. Nhưng các thợ trẻ cũng vẫn vui, tuyên bố là anh em đang "Thử mưa" không có kém gì "Thử lửa" ở chiến trường miền Nam hiện nay. Anh em sẽ thi đua với chiến sĩ miền Nam quyết thắng, cầu khấn Bác phù hộ cho anh em mạnh chân khoẻ tay để tiếp tục "Chiến đấu" với "Giặc mưa" tới cùng.

Và dường như anh em đã cầu được ước thấy: Mưa đã chấm dứt. Trời lại nắng to. Từ hôm đó năng xuất lại lên. Tường Phùng Thế Tài phó Ban xây dựng cùng Kỹ sư Vương Quốc Mỹ chỉ huy trưởng công trường ra thăm và khen anh em cọc bản thép. Nhưng Bộ CT muốn đẩy nhanh thời gian hơn nữa nên đã cho phép xây Ban xây dựng và ban Chỉ huy công trường không chờ xong đóng cọc bản thép, mà cho tiến hành đào hố móng toàn Lăng sớm, coi như cọc bản thép và hố móng cùng làm song song với nhau và cùng thi đua.

Ông Bé đã vui vẻ giải thích thêm cho anh em thợ hiểu và nhấn mạnh: quyết định của trên cho đào hồ móng sớm là một quyết định hết sức táo bạo. Vì thời gian! Phải, tất cả vì thời gian! "Anh em hiểu".

Nhưng sấm lại nổi ầm ì. Bầu trời lại đầy mây. Đúng là vẫn còn mưa. Mùa mưa mà! Gian khổ vẫn còn nhiều ở phía trước. Nhưng một cậu trong cánh thợ bỗng bật lên một câu nhại đùa câu ca dao xưa: "Trời mưa thì mặc trời mưa, anh em cọc thép có thừa... dẻo dai". Cả bọn cùng cười oà. Khi thấy anh em đào hố móng tập nập kéo tới, anh em cọc bản thép cũng mừng. Mừng vì kế hoạch chung sẽ không lo bị chậm, mừng vì có thêm anh em đến, càng đông càng vui.

Quang cảnh đúng là có nhộn nhịp hơn, vòng trong hố móng, vòng ngoài cọc bản thép. Cả hai đội thi nhau và cùng làm cả 3 ca, dù nắng dù mưa. Về phần cọc bản thép, Liên Xô vẫn chưa đưa sang kịp, nhưng dẫu sao ta cũng tự "Chạy" được dần dần, mặc dầu tổng số cọc như các kỹ sư đã tính rồi: Sẽ phải tới 1500. Về phần hố móng, các chuyên gia, kỹ sư cũng đã tính: để hoàn tất toàn bộ diện tích hệ thống hố móng sẽ phải đào trên 6 vạn mét khối đất và cũng phải chuyển trên 6 vạn mét khối đất đi nơi khác. Giả dụ dùng lao động thủ công thì cần phải có 300 người lao động liên tục trong 8 tháng liên. Nay xe trọng tải lớn, cần cẩu lớn, máy xúc, máy hút nước... cùng các loại vật tư khác của Liên Xô vẫn chưa tới được cảng Hải Phòng. Tuy nhiên, cũng không thể thụ động ngồi chờ. Chờ sẽ dứt khoát không kịp thời gian trên đã quy định là 2 năm. Phải cố tranh thủ mà làm...

Và ngày 2 tháng 9 - 1973 ngày được quy định chính thức khởi công trên toàn công trường xây Lăng Bác. Cả hai bên hố móng và cọc bản thép đều vẫn chưa xong. Tuy nhiên hai việc này (đóng cọc bản thép và đào hố móng) là linh hoạt tranh thủ làm trước lễ khởi công được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu, nên khi làm lễ khởi công mà cọc cùng móng vẫn còn làm là chuyện bình thường như nhiều công trường khác xưa nay cũng thế....

Toàn công trường tập nập sửa soạn cho buổi chính thức khởi công từ tối hôm trước. Xe cộ, máy móc phục vụ cho công trình đào hố móng được điều về thêm: từ các máy xúc E652, xe Bò tót... đến cả các xe ba gác đẩy tay nữa để chuyển tải đất thải và máy hút nước ở các hố móng, máy san ủi đất nữa. Tận dụng hết. Tất cả làm cho công trường đã ngổn ngang hàng hoá, vật tư, máy móc nay càng thêm ngổn nganh, chặt chội. Mưa lại đổ xuống gần như suốt đêm trước. Ai cũng lo nếu còn mưa, buổi lễ khởi công sẽ bị ảnh hưởng lớn và buổi đầu "Xuất trận" chung có thể sẽ giảm mất khí thế.

Nhưng không ngờ sáng hôm sau - đúng ngày 2 tháng 9 (mà ai cũng thầm nhớ đó là ngày giỗ Bác lần thứ 3) không những mưa đã tạnh lại còn hoe nắng khá đẹp, dù trên mặt đất vẫn còn lênh láng nước, cây cối vẫn còn ướt chưa khô hẳn trước gió sớm. Không khí thật là vui. Hôm nay có khả đông đủ từ Ban chỉ đạo xây dựng, tới Ban chỉ huy công trường 75808. Vẫn có cả một số chuyên gia Liên Xô sang giúp ta cũng có mặt. Đã có nắng sớm lại đứng dưới một rừng cờ đỏ tất cả các gương mặt trẻ già như đều hồng lên trong nhiều niềm vui và hy vọng. Thế rồi đồng chí trưởng Ban xây dựng đích thân nói chuyện. Đồng chí nhấn mạnh đây là chính thức bắt đầu "Khúc dạo đầu quan trọng của bản đại giao hưởng LăngBác". Những người đã đi trước trong "Khúc dạo đầu" này là hai đội cọc bản thép và đào hố móng, được yêu cầu tiếp tục phát huy tinh thần thi đua đã có để các bộ phận mới vào "Trận" noi theo... Rồi đồng chí nói rộng ra tầm ý nghĩa quan trọng của Lăng Bác: không những có tác động lớn lao trong cuộc chiến giành lại độc lập và thống nhất cho Tổ quốc mà còn góp vào sự phát triển tốt đẹp của đất nước mãi mãi về sau... Đồng chí nhắc lại yêu cầu mà cũng chỉ thị của đồng chí Trường Chinh đã nêu ra: là phải "Khẩn trương và khẩn trương!".

Đồng chí trưởng Ban xây dựng dứt lời, anh công nhân Vũ Tất Ban là Anh hùng lao động nổi tiếng - người đã vinh dự được Bác tới thăm gia đình vào dịp Tết năm 1968. Nay anhVũ Tát Ban được thay mặt toàn thể anh em công nhana lưa hứa hẹn với Ban xây dựng, Ban chỉ huy công trường sẽ làm việc hết mình cho xứng đáng là con cháu Bác và cũng là để chào mừng và hưởng ứng những chiến công lớn của đồng bào miền Nam nhằm đánh gục hoàn toàn bè lũ Thiệu giải phóng đất nước...

Sau đó, một tiếng hô vang cất lên, đồng thời là lá cờ đuôi nheo phất mạnh. Một chiếc máy xúc E652 lập tức mạnh mẽ ầm ầm tiến lên rồi lại dừng lại ở một điểm đã được chỉ định sẵn trên khu vực khán đài bên trái (nơi đã được quy định đào móng trước tiên, rồi lần lượt sẽ đào tiếp tới phần chính Lăng ở giữa, sau rốt là khán đài bên phải). Tới đúng chỗ, chiếc E652 vươn dài chiếc cần trục rất mạnh mẽ, há cái miệng gầu đầy những răng thép lớn lao phập xuống, ngoặm ngay rất ngon lành một khối đất lớn đầu tiên. Cũng không hề chậm trễ một giây, một chiếc xe Bò Tót ve ve băng tới, dí thùng xe vào gần, để nhậu gầu đất nhả xuống. To khoẻ vậy mà chiếc Bò Tót như cũng phải rùng mình một cái vì gầu đất lớn rất nặng và đầy thùng. Tiếp đó, cứ như thế, những chiếc Bò Tót khác mau mắn, lần lượt nối nhau chạy vào nhận đất thải của máy xúc đem đi... Các xe đất đều chạy ra đổ ở một vùng ao chuôm hoang thuộc vùng láng. Nơi đây đã được Chính phủ và Thành phố quyết định sau khi hơn 6 mét khối đất của công trường Lăng Bác đổ xong ở đó, sẽ san bằng, rồi một bệnh viện lớn, đàng hoàng, cho thiếu niên, nhi đồng sẽ được xây lên tại chỗ...

Trong lúc đó mọi quan khách trên công trường vẫn còn nán lại xen quang cảnh đào hố móng nhộn nhịp, cùng anh em đóng cọc bản thép tiếp tục hăm hở làm việc ở liền ngay đó, nhiều người đã hiểu ra: gọi "Hố móng" là theo ngôn ngữ của xây dựng cổ truyền, nhưng ở đây không phải là những hỗ móng thông thường thư của các nhà dân, thậm chí các dinh thự hoặc công sở. ở những công trình dân dụng hoặc công sở bình thường, hố móng chỉ sâu tới khoảng 2 mét hoặc hơn một chút. ở đây khác, hố móng là cả một tầng hầm sau tới 6 mét có chỗ 8 mét và kéo dài theo tổng chiều dài của cả Lăng là hơn 150 mét (hai khán đài ở hai bên chỉ rộng 20 mét, nhưng khối chính Lăng ở giữa hình vuông rộng mỗi bề 31 mét. Có thêm một phòng đặc biệt để phòng chiến tranh ở liền ngày phía sau khối chính Lăng).

Gần trưa, trời lại tối xầm. Lại sắp có mưa to! Rồi mưa đổ xuống thật. Không những mưa to, lại còn gió mạnh gần như bão. Gió rít lên từng hồi. Mưa giăng kín trời kín đất. Tuy nhiên các máy xúc vẫn ầm ào liên tục làm việc. Những chiếc xe chở đất vẫn như những đàn voi lớn lồng lên nối nhau chạy đi chạy về hối hả. Không một xe, máy nào chậm lại. Anh đội trưởng chỉ huy cuộc đào xúc đất luôn luôn vừa nước mưa trên mặt vừa chỉ huy vừa luôn thét lên: "Hãy vì Bác! Anh em công nhân xây dựng hãy dũng cảm tiến lên hoàn thành nhiệm vụ!" "Hãy thi đua với nhân dân, chiến sĩ miền Nam đang lăn lộn trong lửa đạn để tiêu diệt quân thù! Bác Hồ muôn năm! Quyết thắng mưa, thắng gió!"... Trong cùng lúc đó, ở liền ngay bên, anh em đóng cọc bản thép tiếp tục làm việc. Những khẩu hiệu bên đó cũng vang lên như át cả gió mưa" "Thi đua với các anh đào hố móng!, Quyết lập công dâng lên Bác!" - "Cọc bản thép cũng hướng về Nam, học tập, thi đua! Quyết không cúi đầu trước mưa gió!"... Ông Tài - Tổng tham mưu phó quân đội kiêm phó Ban xây dựng Lăng khoác tạm một chiếc áo mưa cũn cỡn do anh em phục vụ đem tới cho mượn, vẫn còn đứng đó, bên ông Vũ Kỳ, không khỏi xúc động: - Anh coi! Con cháu Bác ta như thế đấy! Vì Bác họ sẽ làm được tất cả!

Cuối cùng đúng là tất cả anh em công nhân của cả hai bên cọc bản thép và đào hố móng đã thắng. Dần dần mưa gió đã phải ngớt rồi tạnh hẳn. Anh đội trưởng đào "Hố móng" lại vuốt nước mưa trên mặt, thở phào nói với ông Tài:

Thủ trưởng ạ, nói thật, em lo quá. Nhất là xe tải. Ra ngoài ấy, đường vào bãi như thế chỉ "Kềnh", hoặc xa lầy một xe thôi, là chúng em đủ "Chết" rồi! Nhưng may, an toàn cả. Bác phù hộ cho đấy!

Ông Tài ôm lấy anh đội trưởng như ôm tất cả anh em đoàn xe, tất cả anh em máy xúc, kể cả những anh em cọc bản thép, anh em đào hố móng.

Cũng ngày hôm đó, để đẩy nhanh tiến độ thi công hơn và phòng những ngày mưa có thể sẽ còn tiếp diễn, vì mùa mưa lũ vẫn chưa qua, Ban chỉ huy công trường đã chấp nhận đề nghị của cả hai bên - đóng cọc bản thép và đào "Hố móng" công trình - cho anh em làm thêm cả ngày chủ nhất không nghỉ.

Sau đó, đáp ứng nguyện vọng của nhiều trường đại học, trung học, nhiều cơ quan đoàn thể, Ban phụ trách xây dựng Lăng đã cho nhận từng đoàn, từng đội thanh niên nam, nữ học sinh, viên chức và cả những đơn vị bộ đội thuộc Thành đội Hà Nội tới tham gia lao động ở quảng trường, làm những việc phụ động như dọn dẹp mặt bằng, khiêng vác, chuyển vận vật tư từ các nơi vẫn tiếp tục gửi về như cát, đá, sỏi, công cụ lao động. Những ngày thường, không nghỉ được, các trường học và một số công sở cũng tình nguyện xin được làm những ngày chủ nhật. Tuy nhiên một số cơ quan có thể thu xếp công việc, nên vẫn cho nhân viên tới lao động trong cả một số ngày làm việc. Riêng nhân dân các khu phố thì gần như liên tục... Quảng trường đã đông, càng thêm đông vui, tấp nập ngày đêm. Có cả một số đồng chí lãnh đạo của Chính phủ và Đảng cùng một số cán bộ cao cấp kể cả tướng lĩnh quân đội cũng tới lao động. Nhiều người dẫn trông thấy đại tướng Võ Nguyên Giáp, cùng Trung tướng Lê Quang Đạo tham gia đẩy xe ba gác chở đất thải từ hố móng ra các xe tải để chuyển đi... và đồng chí Lê Văn Lương uỷ viên Bộ CT tham gia chuyển cát, còn đồng chí Hoàng Quốc Việt cũng uỷ viên Bộ CT cùng anh em đóng cọc bản thép cùng chỉnh sửa lại những cọc đóng chưa thật tốt... Sự tham gia lao động của các đồng chí lãnh đạo và cán bộ cao cấp đã làm cho mọi người nhất là thanh niên, sinh viên, học sinh rất cảm động, do đó anh em càng hăng say làm việc gần như quên mình.

Mở đầu "Đại chiến dịch" xây dựng Lăng Bác như thế là rất đẹp. Những ngày tiếp sau đó công trường 75808 vẫn tiếp tục ngày đêm sôi động và các năng xuất đều tăng...

Trong khi ấy nhà máy Xi măng Hải Phòng báo lên: đã hoàn toàn thành công trong khâu thử nghiệm và đã bắt đầu sản xuất lớn loại xi măng đặc biệt. Đã đóng được mấy nghìn bao, bao nào cũng có dòng chữ "Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại". 1800 bao đang được chuyển gấp lên Hà Nội, và sẽ còn gửi tiếp tục gửi cho tới khi Lăng Bác đại hoàn thành. Đi đôi với tin vui của xi măng Hải phòng còn có cả tin vui từ Hoàng Thi-Thác Bà - Yên Bái và Thãnhuyên - Thái Nguyên. Hai nơi ấy cũng báo về đang tiếp tục gửi đá đã xay nhỏ về Lăng để sẽ góp phần đổ bê tông, gửi cả người chuyên về chọn lọc, tẩy rửa, làm sạch đá. Cũng đặc biệt là ở Hoàng Thi mỏ đá coi như đã ngừng hoạt động vì việc sản xuất, tiêu thụ trong chiến tranh có nhiều khó khăn, nay có yêu cầu lớn về đá dăm tốt cho công trình Lăng Bác, mỏ đá Hoàng Thi đã sống lại, thậm chí sống mãnh liệt hơn trước nhiều...

Riêng Cát vàng Kim Bôi vẫn chuyển về thường xuyên, đều đặn ngay từ đầu. Ban phụ trách công trường ở đó đã hứa sẽ bảo đảm liên tục suốt quá trình xây Lăng và cả công cuộc cải tạo quảng trường Ba Đình.

Tuyên Quang cũng cho biết gỗ nghiến, gỗ lim... cũng  đang theo sông Lô xuôi về Hà Nội. Chỉ ít hôm nữa chắc chắn sẽ cập bến Phà đen...

Miền Nam cũng báo ra nhiều tin vui mới, động viên, khích lệ tinh thần anh chị em đang phục vụ ở Lăng rất lớn. Tình hình trong đó ngày càng khá hơn nhiều nhất là từ sau Hội nghị 21 của Trung ương mở rộng vừa qua (tháng 7 - 1973). Trị Thiên đã đánh bại nhiều cuộc hành quân tác chiến của Thiệu, đã giành lại hầu hết đất đai bị lấn chiếm từ sau hiệp định Paris. Vùng kiểm soát của Thiệu nay chỉ còn vùng quanh Huế, Quảng Trị và một ít ở ven biển, tức chỉ còn bằng 17% tổng diện tích của Thừa Thiên Quảng Trị... ở khu 5, từ hề thu 1973 quân dân ta chuyển hẳn lên thế tiến công, đã mở rộng bàn đạp ở các vùng giáp ranh, đánh địch cả ở đồng bằng xoá hàng trăm đồn bốt Thiệu, giải phóng thêm nhiều ấp với hàng chục vạn dân. Trong nhiều thành thị và vùng còn bị chiếm đóng đã xuất hiện phong trào đòi hoà bình, dân chủ, dân sinh, đòi thả tù chính trị, và công khai đòi Thiệu phải từ chức... Trong khu 8, ta cũng đã giành lại được nhiều mảng, nhiều lõm, giải phóng nhiều nơi Thiệu mới lấn chiếm, như ở Nam, bắc đường số 4. Ở Bến Tre, ta cũng đã giành được nhiều ấp, xã với gần 9 vạn dân... Ở khu 9 ta cũng loại được hàng nghìn quân địch, trong khi chúng đi càn quét, đặc biệt ta vừa đánh thắng cuộc hành quân lớn của Thiêu khi chúng định chiếm lại khu vực Ba Hồ... Nhiều nơi - từ Trị - Thiên tới Tây Nguyên và Nam bộ - khi tiến đánh địch, quân dân ta giờ đây đã thường có khẩu hiệu gần như giống nhau một nội dung: "Kiên quyết tiến công, đánh thắng hoàn toàn quân thù, để sớm được ra Hà Nội viếngBác!".... Các đồng chí TW có mặt tại chiến trường và các tư lệnh miền đều cùng một nhận định va báo cáo ra... "Đã có sự chuyển động tốt ở chiến trường miền Nam từ giữa 1973 và hiện đang trên đà phát triển mạnh...".

Đồng chí Đỗ Mười đã luôn hể hả nói với những người chung quanh: "Hai bên Nam Bắc cùng thi đua thế này, việc gì mà không xong? Phải không các đồng chí".

Bản tiến độ thi công của 2 bộ phận đóng cọc bản thép và đào "Hố móng" luôn luôn được đặt trên mặt bàn làm việc của đồng chí. Công việc của hai lực lượng đang thi công ấy sắp xong, chất lượng tốt, dù trời mưa gió gần như liên miên ác liệt. Bây giờ Ban phải lo tới vật tư nhưng trước hết cũng vẫn là nhân lực cho phần xây. Có thể coi đây mới sẽ là vào phần việc chính "Xây", đó là cái từ chuyên môn cũ đã quá quen gọi như thế. Cũng như "Hố móng" vậy, nội hàm của "Xây" bây giờ cũng đã khác nhiều. Bây giờ phải nói là "Đổ bê tông cốt thép" mới thật đúng khi muốn nói tới "Xây" những toa nhà lớn và hiện đại. Nay xây Lăng Bác gần như hoàn toàn là đổ bê tông cốt thép. Thật vậy, có tường gạch thì chỉ là mấy bức tường rất không quan trọng ở sau lưng hai khán đài và một vài phòng phụ dưới phần ngậm, tuy vậy gạch thì gạch vẫn phải dầy từ 50cm trở lên 150cm, mạch và trát vẫn phải bằng xi măng đặc biệt. Bởi vậy Ban xây dựng cùng Ban chỉ huy công trường đã phải tập trung vào chuẩn bị vật tư cho phần "Xây". Chủ yếu là bê tông cốt thép. Căn cứ vào thiết kế, trước sau phải có tới 2 vạn m3 xi măng cường độ 300 - 400. Cát khoảng 3 vạn m3, sắt hàn cũng hàng vạn mét... Về nhân lực cũng đã tập trung được thêm người, tuy nhiên số đông chưa có tay nghề chuyên môn phải cấp tốt cho đi học những lớp hạn: Thợ sắt, thợ nguội, thợ máy, thợ điện, thợ hàn, nhất là thợ mộc - thợ mộc làm cốt pha đồng thời làm và lắp cửa cho các phòng ngay từ khi đổ bê tông dưới phần ngầm. Đó là chưa nói tới thợ lắp máy. Ngay trong bước đầu của phần đổ bê tông đã cần tới thợ lắp máy để phối hợp. Thế đấy, chỉ gọi gọn là đổ bê tông, nhưng biết bao nhiêu là việc và bộ phận liên quan cùng phải tiến hành gần như cùng một lúc... Không ít phức tạp, không ít khó khăn. Công trường đã cho bổ túc và đào tạo các loại thợ, đã được 706 thợ trên tổng số 1.038 người từ các nới gửi về.

Không những đã cho đào tạo thợ, Ban chỉ đạo xây dựng cùng Ban chỉ huy công trường còn đã đề nghị Bộ Kiến trúc cho chuyển trạm trộn bê tông từ Ta Đa cách quảng trường 2km về ngay quảng trường để khỏi mất công vận chuyển xa. Cũng đã cho chuyển tới quảng trường cả xưởng gia công sắt thép, cả xưởng ván khuôn và một xưởng mới thành lập là xưởng thiết kế (có nhiệm vụ liền cánh với thợ Bê tông để giám sát và giúp họ làm đúng mọi quy cách và yêu cầu của các bản thiết kế). Tóm lại, mọi xưởng, trạm... đều đã được bóo trí gần như châu tuần gần ngay quảng trường để rút ngắn thời gian vận chuyển, và rút bớt cả xăng dầu cho xe cộ.

Thế rồi tới ngày 20 tháng 10 (1973) tấm cọc bản thép cuối cùng đã được đóng xuống khép kín như bức rào thép bao quanh khu vực toàn khu hố móng của Lăng. Như vậy là đã xong trước thời gian quy định mấy ngày. Ban chỉ đạo xây dựng và Ban chỉ huy công trường đã tới ngay gặp anh em để khen ngợi và chúc mừng. Có một phóng viên được tới công trường để đưa tin, hỏi mọi người: "Vậy cọc bản thép đâu cả?" Mọi người cười: "Cái hàng rào thép ngăn nước ngầm và đất lở ấy anh không trông thấy được đâu! Nó đã được đống cắm ngập hết dưới đất quanh hố móng rồi! Anh phóng viên cười chữa thẹn: "Vậy tôi chụp ảnh làm sao được nhỉ?".

Một tuần sau, đến lượt bộ phận đào "Hố móng" ở khán đài bên trái Lăng cũng hoàn tất để chuyển phần "Hố móng" đã xong (khán đài trái) cho đội quân "Xây" (đổ bê tông cốt thép) tới bắt đầu vào làm việc, theo kiểu xem kẽ liên hoàn, còn mình chuyển sang phần lễ đài phải...

Bữa nay các đồng chí lãnh đạo cũng lại tới khá đông đủ để nhiệt liệt chúc mừng lực lượng đào hồ móng đã thắng lợi và chứng kiến buổi đầu làm việc của đội quân bê tông cốt thép. Đây là bắt đầu bước vào phần rất quan trọng của toàn bộ công trình.

Trước hết mọi người đề ngắm nhìn diện tích toàn hố móng, mới thấy là rất lớn. Đào được, anh em công nhân đã phải bỏ công sức ra không nhỏ. Hố móng của hai cánh khán đài cộng lại dài trên 120 mét, cộng chiều rộng của khu giữa tức chính Lăng nữ (hình vuông mỗi bề 31 mét) thành một chiều dài của toàn Lăng là 150 mét có lẻ. Đã dài, lại còn sâu tới 6 mét, có chỗ 8 mét, giả dụ bỏ một ngôi nhà hai tầng xuống có thể ngập gần hết mái. Anh em đã phải đào hai con đường xuống và lờn cho xe tải tải lấy đất đem tới nơi sẽ xây bệnh viên nhi đổ cả một khối đất trên 1.200m3. Đang mùa mưa. Xe cộ, phương tiện dù đơn xơ những vẫn cũng thiếu then, nhất là cũ kỹ hay hỏng hóc luôn. Rất khổ.

Quay lại nhìn các máy móc lao động của cánh bê tông cốt thép đã chuyển tới, mọi người khá mừng thấy Ban xây dựng và Công trường đã "Giật gấu vá vai" đều về đây được hai cần cẩu khá lớn di chuyển trên đường ray-ký hiệu KD11.0J và hai cẩu nhỏ hơn, bánh hơi như ô tô. Dù nhỏ hơn nhưng hải cẩu này cũng được rất nhiều việc và thuận lợi chuyển vật liệu từ ngoài bãi hoặc kho xưởng vào công trình khá nhanh nhẹn. Cẩu lớn, cẩu bé, cùng xe lớn xe nhỏ... phương tiện tuy thật ra cũng chưa nhiều nhưng nếu so với phần đóng cọc bản thép và cả phần đào hố móng thì dẫu sao chuyển sang phần "Xây" này vật liệu thế y cũng đã là khá rồi, có thể làm được tốt. Tất nhiên nếu máy móc, xe cộ, vật tư nhiều và hiện đại hơn nữa thì vẫn "Ăn chắc" hơn, Đại tướng Võ Nguyên Giáp người đang cùng Bộ CT trực tiếp theo dõi, chỉ đạo cuộc chiến ở miền Nam từng giờ thậm chí từng phút, tuy nhiên hôm nay đồng chí cũng cố bứt ra để tham dự buổi công trường chính thức tiến hành buổi đổ bê tông cốt thép đầu tiên, nói một cách dân dã đã quan là: chính thức bắt đầu vào "Xây" Lăng Bác. Đồng chí hiểu đây là phần việc hết sức quan trọng trong toàn bộ công trình Lăng Bác. Đồng chí đứng ngắm nhìn xe cộ, máy móc... và anh em công nhân nhiều loại như sắt, mộc, lắp máy... đã phải phối hợp ngay từ khâu bê tông này, rất đông, tấp nập và hăng hái, nhưng đồng chí Văn biết cũng không khỏi có chút hồi hộp. Đồng chí không khỏi liên tưởng tới trước khi mới trận mở màn tấn công quân Pháp ở Điện biên phủ khi xưa... Trận Him Lam và trận đồi Độc lập mở màn chính thức đại chiến dịch này liệu có thắng không? Không mở được "Cửa" này làm sao đưa quân tiến xuống được cánh đồng Mường Thanh? Tất nhiên "Mọi sự so sánh đều khập khiễng", nhưng đồng chí hiểu tâm trạng sôi nổi quyết tâm của anh em từ chỉ huy tới chiến sĩ trước cái gọi là "Chiến dịch" bê tông cốt thép này "Nhưng cũng thấy vẫn còn ít nhiều một chút lo lắng về vật tư, phương tiện và cả nhân lực... Quả thật ở nước ta chưa bao giờ gần đây lại có một công trình vĩ đại như thế này.

Đây là phần sẽ dựng lên "Hình hài" của toàn Lăng. Để bắt đầu vào phần "Xây" này, một đội được coi là mạnh đã được vinh dự "Xuất quân" đầu tiên. Đó là đội 7, tất cả anh em đều rất trẻ và khoẻ thuộc Tổng công ty 57 của Bộ Kiến trúc. Dễ nhận ra ngay anh chỉ huy chung của khối hơn ba trăm thợ bê tông vẫn là Anh hùng lao động số 1 của Bộ Kiến trúc: Vũ Tất Ban. Trước khi phát lệnh vào thi công, anh báo cáo với các cán bộ lãnh đạo ở trên xuống chỉ đạo và động viên, cùng các cán bộ là khách mời đứng vây quanh là: mọi công việc của bộ phận đổ bên tông đã chuẩn bị và hoàn toàn sẵn sàng. Anh nghiêm trang, hào hứng nhắc lại lời đồng chí Võ Nguyên Giáp vừa nới với anh em: "Kết quả của công tác bê tông cốt thép sẽ là nền tảng vững chắc cho toàn công trình Lăng Bác". Vì thế - vẫn theo lời anh - tất cả anh em đã hứa sẽ ra sức lao động hết mình và phải biết phối hợp tốt. Tiếp đó, anh tranh thủ báo cáo thêm đôi chút để các cán bộ cấp trên và khách báo chí nghe về một vài trong những đặc điểm lớn trong phần công tác bê tông này. Anh cho biết công tác bên tông cốt thép ở dưới phần ngầm của Lăng Bác ngoài nền, sàn, còn có các bức tường cũng bê tông cốt thép ngăn ra các phòng làm việc lớn nhỏ khác nhau thành những ô vương tương đối đều nhau để tạo sự đặc biệt kiên cố cho cả phần ngầm đỡ được hoàn toàn vững chắc phần nổi sẽ xây ở trên. Nhưng còn có một phần việc rất đặc biệt, đó là làm ở phần ngầm Lăng Bác còn phải tạo nên một vỏ bọc toàn phần ngầm. Vỏ là hai lần thép bọc, thêm một lần bê tông chống thấm dầy ở ngoài cùng là ba. Tất cả sẽ cùng tạo nên một vỏ bọc cực kỳ tín và cũng cực kỳ kiên cố. Như vậy phần ngầm của Lăng sẽ tuyệt đối không bị thấm nước, tuyệt đối không bị rò rỉ, đến mức giả dụ đem thả xuống nước, toàn phần ngầm này sẽ... nổi y như một con tầu! Do đó trong công tác bê tông cốt thép có nhiều loại thợ, trong đó thợ hàn bao giờ cũng thuộc những loại thợ quan trọng đứng hàng đầu. Một đặc điểm nữa là ngay trong khi đổ bê tông đã sớm cót những công việc đã phải sơm có sự hiệp đồng tốt với thợ lắp máy, cả thợ mộc nữa... Như thế đấy, nói đổ bê tông chỉ là nói gọn, còn thực ra rất phức tạp, nhất nhiều việc, và phải phối hợp với nhiều loại thợ khác, nên đòi hỏi người thợ bê tông phải rất cần mẫn, kiên trì vào tháo vát nữa. Mọi người còn đang rất thích thú nghe chuyện của anh đội trưởng bê tông thì có lệnh vào việc. Thế là trào lên như một làn sóng, các anh thợ áo quần lao động gọn ghẽ với những gương mặt đầy hưng phấn, chia ra từng nhóm, từng tốp bắt tay vào các việc khác nhau.

Thể rồi theo một hiệu lệnh, toàn thể bộ máy đổ bê tông to lớn bắt đầu vào việc. Không khí thật là rầm rộ.

Công việc mở đầu xem ra khá trôi chảy. Tuy nhiên dần dân về sau, với con mắt các nhà chuyên môn thấy không phải không có đôi điều, đôi chỗ còn phải được chú ý. Trước hết phần lớn anh em là thợ là thanh niên ở tứ xứ mới tuyển về và huấn luyện gấp chưa thể nói là thông thao. Công tác tổ chức, chỉ huy từ trên xuống dưới cũng chưa phải đã là hoàn hảo cả... Phần ngầm là nơi có mật độ cốt thép rất ớn, có thể lớn nhất trong toàn Lăng, và công việc phải xen kẽ và phối hợp giữa nhiều bộ phận và loại thợ khác nhau nên khá phức tạp, nên việc bố trí, tổ chức sản xuất phải được nghiên cứu rất kỹ, và rất tỉ mỉ hơn nữa mới khỏi chồng chéo hoặc phải đời chờ nhau, thậm chí phải chỉnh sửa lại mất thì giờ... Đó là những khó khăn về mặt nhân lực kỹ thuật. Vật tư cũng chưa phải là đủ. Ta vẫn còn đang phải dùng toàn bộ máy móc, xe cộ, cẩu lớn, cẩu nhỏ... mà ta có, đã cũ hoặc lạc hậu trong khi đó vật tư, công cụ lao động hiệu đại Liên Xô đã báo là thu xếp được rồi và đã gửi sang, nhưng vẫn chưa thấy ang.

Ông Mỹ chỉ huy trưởng công trình cùng hai chuyên gia Liên Xô luôn đi quan sát. Ba ông cùng thấy cái đáng quý nhất là tình thần anh em. Nhưng như thế chưa đủ. Đúng là anh em còn mới nên tay nghề chưa cao. Và cả số lượng nữa, vào việc mới thấy vẫn còn chưa thật đủ. Cứ như nhân lực này, công cụ cùng vật tư thế này, ba ông đều lo mùa mưa lũ sắp tới rồi, e rất khó hoàn thành công việc đúng thời gian như trên đã quy định. Ba ông cùng nhất trí là cần phải mạnh dạn báo cáo sớm điều này với các cấp lãnh đạo ở trên. Không nên quá lạc quan vội.

Ông Mỹ đã lên gặp Ban chỉ đạo xây dựng Lăng. Đồng chí Đỗ Mười cho biết: Ban chỉ đạo xây dựng cũng đã tiếp nhận được ý kiến của một số kỹ sư, kiến trúc sư của ta. Những nhận xét bước đầu đều tương tự như nhau. Nhưng Ban chỉ đạo chưa đưa ý kiến của mình ra vội, vì còn muốn xem xét kỹ thêm nữa. Nhận định không chính xác, anh em sẽ mất tinh thần. Nay có thêm ý kiến của cả ông Mỹ và các chuyên gia là rất tốt. Tuy vậy, đồng chí Mười yêu cầu các cán bộ có kỹ thuật, có kiến thức cần cùng nhau tiếp tục xem xét và suy nghĩ thêm, mặt khác Bạn sẽ lại gửi công văn sang Matxcova tiếp tục thúc vật liệu, và yêu cầu gửi thêm cả chuyên gia sang giúp ta. "Nói thật, các anh ạ, tôi cũng không khỏi lo: Mùa mưa 1974 mà đến sớn, ta vẫn chưa xong thì kéo... chết dơ cả với nhau!".

Qua một tuần.

Sang tới tuần lễ thứ hai. Trên công trình, vẫn chủ yếu bên khán đài trái nơi đang thi công bê tông cốt thép dù vẫn hăng say, rầm rộ, nhưng công việc ngày càng bộc lộ những trục trặc, mà nguyên nhân không khác lắm những gì mà ông Mỹ và các chuyên gia Nga, cùng một số cán bộ cũng đã sớm thấy: trước hết vẫn là thiếu nguyên vật liệu tốt, bên cạnh đó là trong kỹ thuật đã bộc lộ rõ hơn sự chưa thật giỏi của anh em thợ mới vào nghề trong thi công, cộng với sự chỉ huy, tổ chức cũng chưa nhiều kinh nghiệm trong những công trường lớn như thế này, gặp phải việc khó, phức tạp, có khi cán bộ phải cho dừng cả công việc để thảo luận lại, không phải chỉ một vài giờ mà có khi hàng buổi, hàng ngày với chuyên gia ban.

Tuy nhiên, một việc khá lớn đã bất ngờ xảy ra mới chỉ sau có 15 ngày thi công bê tông đã làm cho gần như bàng hoàn cả công trường, nhất là các cán bộ lãnh đạo và chuyên môn. Đó là đang lúc công việc đổ bên tông dẫu sao vẫn chưa có chuyện gì trục trặc thật đáng kể, thì "Đùng một cái", các cán bộ Bảo vệ kinh tế luôn có mặt ở công trường báo động: họ đã phát hiện thấy trong các đá đang dùng trong xây dựng ở công trường có phóng xạ quá quy chuẩn cho phép. Phóng xa? Có thật không? Phóng xạ? Ôi, thế thì... nguy rồi! Nhưng ở mức độ nào? Ai trả lời được? Ai xác định được?... Cả công trường xôn xao. Tất cả mọi việc phải tạm dừng cả lại. Đồng chí Trần Đại Nghĩa nhà khoa học lớn của Việt Nam - Chủ nhiệm uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà nước - lập tức được mời đến. Cũng không khỏi lo lắng, ông đã xem xét lại tất cả các mẫu đá làm bê tông. Nhưng Việt Nam khi ấy làm sao mà có được máy móc hiện đại để có thể cho ông kiểm nghiệm, và sớm xác minh, kết luận thật chính xác là có hay không phóng xạ, và nếu có thì tới mức nào?... Cuối cùng ông đã đề nghị với lãnh đạo cho mang mẫu đá sang Liên Xô nhờ bạn xác minh giúp, không có cách nào khác. ý kiến ấy đã được Bộ CT chấp nhận ngay.

Thế là ba cán bộ tin cậy đã được cử đi, với yêu cầu có kết luận càng nhanh bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Ba người là đồng chí Nguyễn Mạnh Kiểm lúc đó đang là vụ trưởng xây dựng - bộ Kiến trức, Nguyễn Trọng Quyển - trường phòng kiến thiết của Công Binh - người đã có nhiều đóng góp trong thời kỳ làm hai cơ sở đặc biệt 75A, 75B hồi Bác mới qua đời; người thứ ba là đồng chí San chuyên gia thí nghiệm vật liệu cũng bộ Kiến trúc. Ngay khi ba đồng chí đặc phái viên lên máy bay, đồng chí Đỗ Mười còn điện theo sang yêu cầu đại sứ Võ Thúc đồng phải hết sức giúp ba phái viên trong việc này.

Sang tới Nga, nhóm ông Kiểm đã đề nghị với bạn được làm việc ngay. Hết sức mừng: không hề chậm trễ, các đồng chí lãnh đạo của Liên Xô sốt sắng huy động và chỉ thị ngay cho các cơ quan, các tổ chức khoa học lớn nhất liên bang giúp đỡ tức khắc. Trước hết là viện Dupna nổi tiếng, tiếp đến là Viện khoáng sản hiếm, sau nữa với Viện du hành vũ trụ cơ quan khoa học tối quan trọng của Liên Xô. Ba ông phái phiên của ta thở phào: Đúng là "Đường dài mới biết ngựa hay", gặp khó khăn mới thấy rõ tình cảm quốc tế tuyệt vời của bạn. Nhóm ông Kiểm còn được tất cả các nghiên cứu sinh và các nhà khoa học của ta như giáo sư Nguyễn Văn Hiệu đang làm việc ở viện Dupna cũng hết lòng giúp đỡ... Tháng 11, nước Nga đã vào đông. Mùa đông Nga đầy gợi cảm, nhưng nhóm cán bộ của ta sang không còn thì giờ và cả lòng dạ nào mà chơi ngắm cảnh nữa. Cả ba ông đều có bạn Nga cả. Nhưng công việc thế này, tâm trạng thế này, cả ba đều không tới thăm một ai, chỉ chăm chăm đợi chờ trả lời của các viện lớn. Chờ đợi và chờ đợi. Lòng ruột lúc nào cũng như có lửa đôt. Cú phóng xạ thực hay không? Nếu có thì mức độ tới đâu? Những câu hỏi ấy ngày đêm vẫn như khoan vào đầu óc mấy anh em Việt Nam...

Trong khi ấy ở trong nước, từ trên xuống dưới cũng đều vô cùng bồn chồn, lo lắng. Các đồng chí trong Ban xây dựng gần như không mấy ngày không ra hiện trường để xem xét lại mọi việc. Quang cảnh bề bộn bời bời vẫn còn đấy, im lìm, vắng hoe - một sự vắng lặng như nghẹt thở. Lo và buồn không sao kết xiết.

Một tuần lễ qua đi, vẫn chưa có hồi âm. Rồi một tuần nữa sắp trôi đi, vẫn im bắt. Nỗi lo càng lớn, nỗi buồn càng tăng.

Thế rồi tới đúng đêm 19 tháng 11 năm 1973 một bức điện từ Maxcova bay về Hà Nội dựng tất cả mọi người dậy: "... Mức động phóng xạ hết sức thấp, không hề hấn gì. Đá của Việt Nam đang dùng có đủ những thông số kỹ thuật bảo đảm cho phép sử dụng ở các công trình xây dựng quan trọng nhất..." Mọi người chỉ còn thiếu nhảy lên, ôm lấy nhau, reo lên vì quá mừng.

Thế là mọi công việc trên công trường lại được tiếp tục. Lại có tiếng cười ran ran. Lại hết sức tấp nập. Lại vô cùng hăng say. Nhưng dẫu sao cũng thấy rất rõ là đã mất toi gần hai tuần. Vậy làm sao để cướp lại thời gian đã mất vì chuyện phóng xạ, vì cả những buổi thợ phải ngừng tay để cán bộ thảo luận lại về chuyên môn? Mà nay đã là cuối tháng 11- 1973. Vậy liệu có thể hoàn thành mọi việc đúng như yêu cầu của trên không? Câu hỏi ấy đã khá mau trở thành mối lo thực sự của không phải ít người mà đã thành của số đông, nhất là trong các cán bộ chuyên môn và cả các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy.

Ban chỉ đạo xây dựng và Ban chỉ huy công trường cùng các chuyên gia ban đã phải nhanh chóng cùng ngồi lại với nhau kiểm điểm mọi mặt và bàn tiếp tục công việc trên toàn Lăng nhằm làm sao cho được tốt hơn, nhanh hơn nữa. Mọi người thừa nhận tốc độ công việc đúng là có thể chậm so với yêu cầu thời gian do trên đề ra. Nhưng nguyên nhân: Không phải hoàn toàn do "Vụ phóng xạ". Mọi đồng chí đều nhất trí: chủ yếu vẫn là vật tư, thiết bị vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ, dù ta đã hết sức cố gắng với tinh thần không hề ỷ lại, thụ động. Nhưng cũng còn vì lực lượng thi công. Thật vậy, nay đã thấy nhân lực dẫu sau cũng chưa thật đủ, thêm nữa tay nghề nói chung là chưa cao vì hầu hết là thanh niên ở các nơi mới tuyển, mới vào nghề, mặc dù tinh thần lao động của anh em hết sức tốt. Thêm nữa, một số các cán bộ phụ trách các đội cũng tỏ ra có khá lúng túng, thậm chí xử lý chưa chuẩn trong công việc... Cơ quan đặc trách của bộ phận chỉ huy lắp máy của Công trường cũng đã có một báo cáo chính thức khẳng định như báo động: "Có khả năng công trình sẽ bị chậm, không hoàn thành đúng hạn, như quyết định của Đảng và Chính phủ là ngày 2 tháng 9 năm 1975".

image.png

Ban chỉ đạo xây dựng Lăng cùng Ban chỉ huy công trường đã cùng bàn rất kỹ mọi mặt, cuối cùng đã hoàn toàn nhất trí: một mặt phải đề nghị Bộ CT và Chính phủ và Bộ quốc phòng cho lực lượng quân đội sang tăng cường cho công trường. Mặt khác đề nghị lại cử ngay một phái đoàn sang Liên Xô đề nghị bạn gắng khẩn trương hơn nữa trong việc hoàn tất bản thiết kế tổng thể về Lăng Bác, đồng thời gửi tiếp vật tư và tăng thêm chuyên gia cùng công nhân kỹ thuật sang Việt Nam. Đặc biệt tiếp tục đề nghị bạn hối thúc các vật tư đang đặt làm ở các nước khác.

Bộ CT và Chính phủ đã hoàn toàn đồng ý với tất cả những đề nghị này. Bộ quốc phòng đã được yêu cầu phái ngay công binh sang công trình Lăng Bác. Còn đoàn đi Liên Xô do đồng chí Phùng Thế Tài phụ trách được yêu cầu lên đường gấp, ngay từ những ngày đầu tháng 12 (1973).

Bay đúng vào một ngày rét buốt, trần mây tới xám đè nặng chĩu, trời mù tốt, ông Tài thầm lo: khéo là điềm xui, công việc thất bại mất. Nhưng không ngờ mọi việc khá thuận lợi. Ông tài sang, đồng chí Nôvicốp phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Liên Xô đã tiếp ngay và nhiệt tình bảo đảm Liên Xô sẽ gắng hết sức mình giúp Việt Nam hoàn thành Lăng Bác đúng thời hạn. Liên Xô sẽ thúc đẩy ngay các nước đã nhận làm máy móc cho Việt Nam. Mặt khác Liên Xô sẽ huy động hơn nữa những gì có thể huy động được trong cả Liên bang để gửi tiếp sang Hà Nội.

Về phía quân đội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã tổ chức họp ngay Thường vụ quân uỷ và sau đó binh chủng Công binh đã nhận được đầy đủ chỉ thị và mệnh lệnh của trên. Căn cứ vào yêu cầu cụ thể đầu tiên của Ban chỉ huy công trường, Công binh cử một đại đội thợ sắt ưu tú, lành nghề nhất của đoàn công binh Hùng Vương đến Ba Đình trước.

Ấy là những ngày giáp Tết Giáp Dần. Toàn đội hăng hái hứa với chỉ huy Trung đoàn khi ba lô lên đường tới Ba Đình: "Sẽ gác lại niềm vui đón Tết ở đơn vị, gác lại cả chuyện về phép thăm gia đình. Được đi góp phần công sức xây Lăng Bác, đó cũng là niềm vui và hạnh phúc lớn của anh em chiến sĩ".

Đoàn xe đã đưa anh em đi vào những đường phố Hà Nội hồng thắm hoa đào và nhộn nhịp rừng người đi sắm Tết. Thành phố dường như không còn dấu vét gì nhiều của trận đánh B52 mùa đông 1972. Trên xe, lính ta lòng tràn ngập niềm vui và cả tự hào của những người lĩnh được đi làm nhiệm vụ thiêng liêng. Tới Quảng trường, đội công binh thợ sắt vào trình diện. Anh em đã được đón tiếp rất vui vẻ trong tập thể lực lượng công nhân đang đổ bê tông cốt thép. Tất cả mới, cũ cùng nhau hát vang những bài ca chiến đấu và cách mạng, rồi cùng hạ quyết tâm sẽ "Ăn Tết bê tông". Có nghĩa là sẽ cùng nhau làm việc cả ba ngày Tết.

Thế rồi đêm 30 Tết đã tới, trong khi những nồi bánh chưng réo sôi trên các bếp nửa đoàn tụ, vô cùng ấm áp ở quê hương xa, gần, và ở ngay khắp đô thành này, thì trên công trường anh em thợ bê tông - cả dân sự cả quân sự - cùng xắn tay sáo lên, bắt tay vào việc... Mưa bụi lất phất bay đầy gợi cảm đã làm cho tâm hồn anh em thợ và chiến sĩ như thêm dịu đẹp trong niềm vui của tuổi trẻ sẵn sàng dấn thân cống hiến. Dù cũng không khỏi đôi ba phút nào đó như thoáng một chút thoáng nhớ về những mái ấm gia đình nơi quê xe trong đêm trừ tịch này, nhưng cũng chỉ như một gợn mây qua vầng trăng rầm, ý chí vẫn vững vàng, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ vẫn như lửa đỏ... Tới khi tiếng pháo bắt đầu nổ ra xa gần khắp thành phố, toàn thể anh em thợ và chiến sĩ bê tông không ai bảo ai cùng nhau bật lên tiếng hát "... Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng..." rồi "...Một mùa thu qua cáhc mạng tiến ra..." ... Những tiếng hát trẻ trung, say sưa đến lạ lùng ấy vang lên bên các hố móng, bên các cột, mảng cốt pha và các giàn giáo đã bắt đầu dần dần nho cao. Đêm tịch đen xanh xiết bao dịu dàng dẫu sao cũng đầy thương nhớ, dù đó là những "Tiểu anh hùng của thời đại" đang sẵn sàng, tự nguyện dấn thân. Chung quanh họ là những ánh đèn đường và từ những ô cửa sổ tràn đầy ấm áp của những gia đình ở bên đường chiếu ra. Từ những ô cửa sáng đèn ấy còn bay ra cả những tiếng ho của cụ già, tiếng nói cười của người lớn, cùng tiếng bi bộ của trẻ thơ, với cả những giọng cười con gái trong sáng, đẹp như ngọc... Đó là một đêm giao thừa hoà bình không sao quên, mà những chàng trai và lính thợ đã trải quả như thế đấy.

Sáng hôm sau mồng một Tết. Tất cả anh em công nhân, chiến sĩ công binh, cũng như bất ngờ nhận được một lẵng hoa rất tươi của bácTôn Đức Thắng gửi tới tặng với dòng chữ: "Chúc mừng các cháu đã quên Tết, xa gia đình, lao động hết mình vì Bác Hồ vĩ đại của tất cả chúng ta".

Và sau đó ít ngày, Ban chỉ huy công trường đã đề nghị với bên quân đội chi viện tiếp cho 120 thợ sắt nữa. Vẫn với tuyền thống "Có ngay", mồng 7 Tết, Binh chủng công binh đã phái đi tiếp 2 đại đội thuộc Tiểu đoàn 2 vẫn của đã đoàn Hùng Vương. Hai đại đội này tới quảng trường sát nhập luôn với đội sắt đã sang trước, thành một tiểu đoàn hoàn chỉnh. Tiểu đoàn này đã được trao ngay nhiệm vụ kết cấu sắt cho việc đổ bê tông ở phần trung tâm, tức chính Lăng. Nơi đây anh em công nhân đào hố móng cũng vừa hoàn tất công việc, đã rút sang làm ở bên khán đài cánh phải.

Được làm việc ở ngay khu chính Lăng, anh em công binh rất phấn khởi. Cả tiểu đoàn tập trung ngắm nhìn và cùng tưởng như thấy Bác kính yêu đang từ chủ tịch phủ đi sang, vẫn với bộ ka ki bạc mầu và đôi dép lốp. Bác tươi cười bước tới với các chiến sĩ. Bác giơ tay vẫy và hổi: "Các cháu đấy ư? Vừa rồi ăn Tết ở công trường có vui không?"... "Đồng chí tiểu đoàn trưởng bỗng cất tiếng hát vang "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng..." Lập tức cả đơn vị cùng cất tiếng hát theo vang dậy, ngây nhất. Tất cả những ai trên quảng trường đều quay lại, ngắm nhìn các chiến sĩ, và dường như ai ai cũng cất tiếng hát theo... Mùa xuân, nắng ấm bỗng bừng lên làm cho tất cả những gương mặt - cả công nhân, chiến sĩ, cán bộ, nhân viên - cùng như sáng cả lên, đẹp hơn lên lạ lùng.

Không khí làm việc trên toàn quảng trường đã hoàn toàn trở lại tập nập, sội động như khi cưa xảy ra "Vụ phóng xạ" vừa qua. Cũng vừa dịp này (đầu tháng 3 - 1974) phái đoàn ông Tài từ Liên Xô trở về mang theo những tin mới bổ xung cho niềm vui chung: Ta đã nhận được của ban bản Tổng tiến độ thi công toàn Lăng rất quan trọng. Bạn cũng đã hoàn toàn đồng ý sẽ thúc đẩy mọi vật tư và tăng chuyên gia để giúp ta quyết đổ xong bê tông toàn phần ngầm của Lăng - dự kiến sẽ là ngày 30 tháng 5 - 1974).

Có được bộ bản Tổng tiến độ thi công là rất mừng.

Ngày 8 tháng 3 (1974) được lệnh của Bộ Quốc phòng, Công binh đã quyết định phái nốt cả Trung đoàn công binh Hùng Vương sang tham gia công trường xây Lăng Bác. Còn hơn thế nữa: theo lệnh đồng chí Văn Tiến Dũng Tổng tham mưu trưởng, Công binh báo sang 75808 là sẽ còn được tăng thêm một trung đoàn nữa: Trung đoàn 289 Bắc Sơn. Nhưng đơn vị này đang ở xa, sẽ về sau.

Và thế là chỉ huy ngày sau đó, đoàn Hùng Vương đã có mặt đầy đủ ở Ba Đình (cùng tiểu đoàn đã đến từ trước). Ban chỉ huy Đoàn đã nhận nhiệm vụ cụ thể cả trên bản vẽ, cả trên thực địa. Rồi sau khi rất nhanh chóng ổn định nơi ăn chốn ở tại những căn lán tạm ở ngay bên quảng trường, toàn đơn vị bắt đầu vào việc.

Ấy là một buổi sáng mùa xuân. Trời trong sáng và ấm áp. Mẻ bê tông đầu tiên của chiến sĩ Hùng Vương đã đổ xuống hố móng ở khu trung tâm (chính Lăng) trước sự rất hài lòng của một số đồng chí lãnh đạo ở trên tới chứng kiến, và tất cả anh em công nhân bên Kiến trúc.

Nhưng rồi mấy hôm sau trời chuyển dần sang nắng. Cái nắng mới bao giờ cũng thường rất khó chịu. Mồ hôi như suốt ngày. Chiến sĩ công binh Hùng Vương như vật lộn với cát, sỏi, xi măng... dưới cái nắng chớm hè mà đã gần như cháy lửa. Nhưng vẫn hết sức kỷ luật, hết sức gan góc, với tinh thần trách nhiệm rất cao của những người chiến sĩ trong quân ngũ đã được rèn luyện, nên năng xuất không hề giảm. Anh em đã làm gần như không nghỉ.

Rồi sau mấy ngày nữa, đoàn công binh Bắc Sơn rầm rập kéo tới, đúng như chỉ thị của Tướng Văn Tiến Dũng. Số lượng lính lao động ở đây đã khá đông nay càng thêm đông. Khí thế chung do đó cũng lên cao hơn. Đồng chí Đỗ Mười đã ra tận nơi, đứng trên con đường làm tạm bằng những mảnh bê tông ghép cho các xe cần cẩu, xe tải chạy quanh toàn khu hố móng. Đồng chí ngắm nhìn quang cảnh đông đảo, tấp nập chưa từng có ở đây, mầu áo xanh của lính hoà với mầu áo xanh thợ, lòng ông không khỏi trào lên niềm vui và tin tưởng. Nỗi lo chậm thời gian âm thầm lẩn quất trong lòng ông hơn tháng nay chưa dám thổ lộ cùng ai, nay dường như không còn nữa. Chợt một trợ lý vội vã tới báo cáo: Đồng chí Vũ Nguyên Giáp lại tới...

Hai đồng chí Võ Nguyên Giáp và Đỗ Mười cùng đi xem cả ba khu: khu chính giữa Lăng và hai khán đài ở hai bên. Các đồng chí cũng hoàn toàn đồng ý với Ban chỉ huy công trường về sự phân công gọn, khi đã có nhân lực mạnh: Anh em công binh được phân công tập trung dứt điểm ở giữa Lăng cùng hầm đặc biệt. Hai khán đài ở hai bên được giao hoàn toàn cho anh em công nhân thuộc bộ Kiến trúc, đồng chí Đỗ Mười báo với đồng chí Vũ Nguyên Giáp là Ban chỉ huy công trường cũng đã điều tới phối thuộc cho anh em một số các kíp thợ mộc, thợ thép hình, thợ giàn giáo và cả mấy cán bộ trắc địa...

Đồng chí Võ Nguyên Giáp trước khi ra về đã dừng lại trực tiếp đứng nói chuyện với anh em thợ và công binh ít phút. Đồng chí báo cho anh em biết cuộc chiến trong Nam đang đi tới giai đoạn quyết liệt nhất và cũng là giai đoạn quyết định. Rất có nhiều triển vọng lớn...:

Anh em công nhân và chiến sĩ lắng nghe và hết sức vui mừng vừa rất cảm động khi thấy "Anh Văn" - "Bác Văn" đang là người gánh vác trách nhiệm cao nhất trong quân đội, hết sức bận, trong những ngày hết sức sôi động này vẫn cố dành thì giờ lại ra đây động viên anh em thợ thì quả thật là vô cùng quý báu. Tất cả cùng vui vẻ đồng thanh chúc sức khoẻ đồng chí và hữa sẽ triệt để hưởng ứng đợt thi đua đang diễn ra với tên gọi "Chiến dịch đổ bê tông phần ngầm".

Giữa lúc đó một tin vui nữa bay về như góp thêm phần động viên mạnh mẽ tinh thần em anh công nhân và chiến sĩ: khá nhiều vật tư của Liên Xô đã cặp bến Hải Phòng...

Người ta thường nói "Phúc bất trung lai", nhưng ở đây, lúc này thì quả là đã có sự "Trung lai". Nhưng vẫn chưa biết hết: lại còn thêm một tin vui nữa: Một đoàn xe chở gỗ của Nam bộ xa xôi đã ra tới Hà Nội! Đoàn do đích thân bà Nguyễn Thị Định phó tư lệnh quân giải phóng miền Nam chỉ huy. Mấy tháng trước đã có gỗ và đá quý của Quảng Nam Đà Nẵng, rồi cả gỗ quý của đồng bào Tây nguyên. Bây giờ đến gỗ quý Nam bộ, niềm vui lại bao trùm khắp công trường.

Hôm ấy, các đồng chí lãnh đạo đều đã có mặt từ sơm. Tuy là đón gỗ quý, nhưng ai ai cũng nghĩ, cũng coi đây là đón đại biểu của quân dân miền Nam ruột thịt đã vượt qua bao máu lửa ra đây viếng Bác...

- Xe đã tới kia rồi! Những tiếng rao vang cất lên từ ngoài xa.

Tất cả những người chò đón đều rất mừng rất vui, không khác gì những tháng trước đã đón các đoàn gỗ, đá quý từ Quảng Đà - Non Nước, khu 5 và Tây Nguyên ra dâng Lăng Bác.

Thế rồi một đoàn hơn chục chiếc xe Mỹ to đúng chở đầy gỗ cũng từ từ tiến vào quảng trường. Trên xe còn có cả những cán bộ, chiến sĩ đội mũ tai bèo, mặt còn xanh mầu cây rừng, mầu địa đạo, và xạm khói súng, khói bom. Đoàn xe dừng lại trước hội trường Ba Đình bên kia đường Hoàng Diệu. Cũng như khi đón gỗ và đá quý của Quảng Nam - Đà Nẵng và gỗ quý Tây Nguyên trước đây, lễ đón gỗ quí và cán bộ chiến sĩ Nam bộ làm trong hội trường Ba Đình nơi được coi là lớn nhất lúc đó. Lễ cúng dản dị nhưng tràn ngập tình thương yêu và trân trọng. Đã nhìn rõ hơn những gương mặt anh hùng của các chiến sĩ từ trong máu lửa xa nhất lần đầu ra thủ đô. Đây là bà Nguyễn Thị Định anh hùng mà hiền hậu, phó chỉ huy Quân giải phóng miền Nam. Đây là các cán bộ, chiến sĩ miền đông anh dũng. Đây nữa, các cán bộ, chiến sĩ miền tây tuyệt vời... Và cũng đã nhìn thấy rõ hơn những cây gỗ quý. Quý nhất là Nu đã nổi tiếng cả trên thế giới Bên cạnh Nu, trên các xe còn nhiều thứ gỗ quý khác như Trắc đen lĩ bền vô hạn, vân đen óng ánh, Trắc nghệ mầu nâu tươi cũng có vân đẹp lượn xoáy. Hương Tía thì mầu hồng, vân như mây vờn. Và Mun đen vân lại như sóng dậy. Sơn huyết tía đỏ, Kim dao vàng mịn... Tất cả 16 thứ gỗ quý hiếu khác nhau.

Rồi bà Định đứng lên bày tỏ mọi nỗi niềm vui sướng của ba con và bộ đội trong chiến trường xa xôi được ra tới Thủ đô của cả nước, dâng lênBác mọi số gỗ quý này để xây Lăng. Bà cho biết nhân dân trong đó đã ước mong từ lâu là rồi đây toàn thắng Bác sẽ vô Nam cho con cháu được gặp Cha già dân tộc muôn vàn yêu kính. Nhưng nay Bác đã nằm xuống, từ xa xôi ngàn dặm thương tiếc Bác khóc như đã cạn hết nước mắt... Nay bà con cô bác và bộ đội không tiếc sức, không tiếc cả thân mình đi tìm gỗ quý đem ra góp phần xây Lăng, để rồi sau đây toàn thắng - mà chắc cũng không còn xa lắm nữa để bà con cô Bác sẽ ra lần lượt được ra bắc, dẫu sao cũng còn được ngắm nhìn dung nhan của Bác...

Sau đó cùng ngồi quây quần, theo yêu cầu của mọi người, bà Định đã nói lại về mọi nỗi gian lao mà bà con cô bác cùng chiến sĩ đi tìm gỗ quý: Đã có trường hợp bộ đội phải tổ chức diệt đồn địch để mở đường vào rừng mới lấy được gỗ. Nhiều nơi khác, già trẻ, gái trai trong các ấp đeo bương nước, cơm vắt, muối đùm xuyên rừng, leo núi, rất nhiều ngày vất vả, đói khát, lại còn bom đạn địch... Có nói phải nổ mìn phá đá mà leo lên tìm gỗ, có khi phải đua cả xe ủi vào làm đường cho gỗ ra, ngay bên đồn thù... Khi tới đường Trường sơn đã có máu đổ vì bom. Nhưng cũng may là mùa khô nên xe gỗ đi không đến nỗi quá gian nan. May hơn nữa, có chặng anh em bộ đội cao xạ còn kéo cả pháo đi theo để bắn máy bay địch bảo vệ đoàn, bảo vệ gỗ. Có nơi bộ đội công binh còn bắc cả cầu phao lớn cho xe, cho gỗ sang sông... Tóm lại, với tất cả lòng mình và cả máu mình và được các chiến sĩ Trường Sơn hết lòng giúp đỡ, bà cô bác đã kiếm tìm được gỗ tốt và đã ra được tới đây, bà tin vậy và hết sức xúc động. Đồng chí Đỗ Mười đã thay mặt anh em toàn công trường nói lên những lời gan ruột nhất với đoàn và cũng là với tất cả bà con cô bác trong chiến trường xa xôi máu lửa.

Rồi còn tiếp chuyến gỗ nữa của riêng các chiến sĩ Trường Sơn. Đã ngày đem đổ mồ hôi và cả xương máu đổ ra giữ cho được con đường chiến lược sống còn, các chiến sĩ ta cũng vẫn hết lòng tìm kiếm gỗ quý gửi ra góp phần xây Lăng Bác. Gỗ Trường Sơn chủ yếu là gỗ Trắc đại thọ, cũng một loại gỗ rất quý...

Như thế gỗ đã về khá, có thể cho anh em thợ xẻ nổi tiếng của Nam Hà, Hà Tĩnh xúc tiến ngay việc xe ra những loại gỗ thích hợp để làm những cửa ra vào khác nhau trước hết cho phần ngầm, rồi còn phải làm cho phần nỏi, tổng cộng đã biết trước là 200 bộ lớn, nhỏ, trong đó cửa cho hầm đặc biệt là nặng nhất, gỗ đã hết sức răn, bền tựa như thép, lại còn phải ba lần của để có thể chống bom và đạn, cả hơn ngạt. Một bộ cửa ấy nặng tới hàng tấn...

Trong khi đó mọi công việc chủ yếu vẫn là tập trung, dồn hết sức để đổ bê tông cho xong phần ngầm. Lãnh đạo ở trên đã nhắc lại: "Đổ xong bê tông phần ngầm, đã có thể coi như cơ bản hoàn thành công tác bê tông của toàn Lăng". Như vậy nếu tính từ khi đổ những gầu vữa bê tông đầu tiên tới nay đã hoàn tất bên khán đài cánh trái và đã sang khu giữa. Nay đã là tháng 3 - 1974 dù chỉ còn hơn 2 tháng nữa phải hoàn tất phần ngầm toàn Lăng, khối lượng còn khá lớn, nhưng rất hay là đã có thêm đoàn HùngVương, cả đoàn Bắc Sơn nữa - những đơn vị mạnh của công binh tới tăng viện, vậy làm sao mà công trường sẽ không thể hoàn thành tốt chỉ tiêu? Nỗi lo dù có như lửa đốt, nhưng niềm tin đã có cơ sở vững chắc mới. Móng bè phần đáy đã xong, thép đan dầy tới 20cm, móng sỗ vững như bàn thạch "Anh em cùng tập trung sức hoàn thành thật tốt toàn bộ vỏ thép toàn phần ngầm Lăng. Rồi tiếp đó là đổ bê tông cốt thép (xây) hệ thống tường ngăn các loại...

Đã được biết qua bản các thiết kế, nhưng bắt tay vào hoàn tất vỏ thép quân ta mới thấy rõ hơn: Đây quả là một công trình đặc biệt mà anh em chưa bao giờ từng thấy, từng làm. Đúng là anh em thợ trong nước chưa hệ thấy công trình nào có phần ngầm lại có cả vỏ thép hai lớp cho cả phần ngầm như thế này. Không những vỏ ngoài đã toàn bằng thep tấm dày từ 6 ly tới 8 ly, phía ngoài vỏ thép ấy còn có một vỏ bê tông mác 300 dày 20cm. Vỏ thép bên trong có khác đôi chút: Chỉ làm ở khu hầm đạc biệt và hành lang lối thoát ra ngoài. Tuy nhiên, tất cả sẽ bảo đảm tuyệt đối, hoàn toàn cánh nước, chống thấm dù cho giả dụ như có lụt lội, động đất. Trong việc làm vỏ thép công tác kết cấu sắt thep và bô tông đã quan trọng, nhưng việc hàn ở phần này còn quan trọng hơn, phải do những tay thợ hàn thật "Cự phách" đảm nhiệm.

Mấy hôm bắt tay vào làm vỏ bọc thép phần ngầm, trời lại đổ mưa. Anh em cứ "Đầu ráo áo ướt" lục tục làm việc dưới mưa rôi. Rất cảm thông, muốn chia xe sự vất vả và cũng để động viên, các đồng chí lãnh đạo ở trên đã đến, khoác tạm những tấm áo mưa của lính, của thợ, đúng giữa trời trò chuyện với anh em.

Những người lính thợ cũng đã tập trung hết sức lực vào hoàn tất móng bè ở khu giữa của Lăng và hầm đặc biệt. Anh em công nhân bên Kiến trúc cũng tập trung vào dứt điểm ở khán đài bên phải. Như ta đã biết móng bè ở khu giữa và hầm đặc biệt thép hết sức kiên cố, thép đan dày đặc đến mức bản vẽ không mô tả nổi, các cán bộ, kỹ sư phải chỉ dẫn trực tiếp trên thực tế... "Từ cha sinh mẹ để đến nay mới thấy những bộ móng bè ghê gớm như thế này".

Hiện trường càng trở nên đông đúc, cả lĩnh cả công nhân. Có thể là hơn quá đông. Ai ai cũng như muốn tranh cướp thời gian để hoàn thành nhiệm vụ đúng với yêu cầu của trên. Màu áo lính đã hoà thêm nhiều với màu áo xanh công nhân. Tất cả cùng tạo nên một quang cảnh tấp nập, ồn ào với tiếng các máy trộn bê tông làm việc hết công xuất, tiếng gầm gào của đủ các loại xe tải, cùng tiếng nghiến, rít của các cần cẩu lớn nhỏ... tất cả tạo nên một vùng âm thanh dữ dội, căng thẳng, mà người ta không biết gọi là gì hơn: "Giông bão công trường".

Nắng vẫn chói chang. Các khuôn mặt chiến sĩ và công nhân đều nhễ nhại mồ hơn. Các cán bộ chỉ huy, các kỹ sư, kỹ thuật viên là phái viên hiện trường cũng mặt mày đỏ gắt nhưng ai cũng như ai vẫn như say trong công việc.

Rồi mấy tuần sau hệ thống mong bè để đổ sằn cũng đã xong cùng "Vỏ thép" "Con tầu" đã được xét nghiệm với kết luận rất tốt. Công việc tiếp của lĩnh và công nhân là kết sắt, thép và lắp các ván khuôn để đổ bê tông hoàn tất việc "Xây" các bức tường ngăn chia các phòng lớn nhỏ có mục đích sử dụng khác nhau. Bây giờ chính là lúc này anh em thợ mộc bắt đầu vào cuộc sâu cùng với anh em đổ bê tông để lắp đặt 100 bộ cửa cho tất cả các phòng dưới phần ngầm, nặng nhất, khó nhất là ba bộ cửa phải lắp thành ba lớp ở cửa hầm đặc biệt phòng chiến tranh đã ba bộ mà bộ nào cũng phải là gỗ như thép và dầy nặng mỗi bộ hàng tấn, vận chuyển và dựng lên phải toàn bằng máy hết... Cũng là lúc những anh lính công binh chuyên phụ trách lắp máy cũng vào phối hợp giúp anh em đổ bê tông đặt sao cho hoàn toàn chính xác, đúng vị trí các sắt chờ và chôn sẵn các cấu kiện để sẽ đặt máy được chính xác; đồng thời chửa ra các lỗ lớn, nhỏ trên cấc bức tưởng để cũng rồi sẽ cho các hệ thống ống hơn, giây điện sẽ luồn qua đi khắp phần ngầm rồi lên khắp phần nổi, lên tới tận máy Lăng... Tổng các hệ thống các loại đường giây sẽ dài tới mấy nghìn mét cộng lại. Anh em lính, thợ đã gọi vui đó là "Hệ thống các tĩnh mạch, động mạch của toàn cơ thể Lăng".

Đây là giai đoạn đã có thể coi là giai đoạn cuối của chiến dịch phần ngầm với chẳng ít phức tạp, khó khăn - mà chủ yếu là về kỹ thuật. Do đó thợ càng phải tập trung đầu óc, phải nỗ lực hơn nhiều. Đây cũng là giai đoạn không chỉ cán bộ lãnh đạo và chỉ huy rất quan tâm tới việc động viên và giúp đỡ cụ thể cho anh em thợ làm việc tốt mà anh chị em nhà bếp của công trường cũng muốn giúp anh em giảm bớt phải đi lại mất thì giờ. Vì vậy nhà bếp đã có sáng kiến mang cơm ra tậm "Chiến hào" cho lính và thợ. Những anh chàng lém được dịp thả sức "Cù" gây cười cho mọi người. Nhiều cô gái nấu cơm không thua kém "Khoa đấu hót" cũng tỏ ra hết sức duyên dáng, nên những bữa ăn "Đầu bờ" lại hoá ra rất thú vị; công nhân và lĩnh trẻ đều rất vui.

Thế rồi đúng ngày 19 tháng 5 - 1975 phần ngầm đã hoàn thành. Có thể coi đây đúng là "Một con tầu kỹ thuật", hoặc "Một nhà máy ngầm hiện đại" đã được làm xong. Tất cả các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy, cùng cán bộ các phòng thí nghiệm, kiểm tra, thẩm định chất lượng, và các kỹ sư đủ loại đều đánh giá toàn bộ phần ngầm đã được "Xây" rất tốt. Chỉ riêng một chi tiết cũng đã đáng được ngợi khen: Đó những chỗ rỗ trên mặt bê tông, tỉ lệ ở đây chỉ là 2,2% trên hơn 10.000 m3 (tổng diện tích bê tông toàn Lăng dự kiến là 20.000 m3). Đây là một tỉ lệ rỗ thấp lý tưởng, chưa từng có ở miền bác Việt Nam. Rất vui, các chiến sĩ công binh và công nhân Kiến trúc chỉ còn thiếu đốt phảo ăn mừng.

Công việc xây lắp bắt đầu chuyển lên phần nổi. Không phải "Lễ" khai mạc nữa, vì đây là công việc tiếp nối. Nhưng không khí vẫn thật nhộn nhịp và rất vui. Không ít anh chiến sĩ đã bốc lên, tuyên bố: "Đã làm được cái phần ngầm, lên phần nổi chẳng còn cái gì đáng lo lắm nữa". Nhưng có anh tỏ ra thành thạo "Kê" lại ngay: "Bạn chưa biết cái phần ốp đã mầu các loại và trang trí trên phần nổi thế nào đâu. Kỹ sư, kiến trúc sư người ta đã tính rồi: thời gian việc ốp đã, trang trí sẽ ngang bằng phần đổ bê tông cốt thép đấy!" Anh kia cãi lại: Ốp đá, trang trí, đúng là khó rồi, nhưng đã có cánh chuyên môn. Mình bê tông cốp théo chuyên "Ăn no vác nặng", việc quái gì phải quan tâm nhiều tới chuyện đó"... Bỡn nhau thế cho vui thôi, chứ không phải quá chủ quan đến nỗi không ai biết lo là gì. Họ đều hiểu chỉ riêng cái việc đổ bê tông những chiếc cột chung quanh phòng Bác ở ngoài hành lang trên tầng hai đã phải mịn như thể nào, thẳng tắp lên tận mái không sai một lý như thế nào, và bốc góc mái trên cùng hơn vát nhẹ cũng phải thật cân đối và đầy gợi cảm như 4 câu thơ về quê hương Việt Nam như thế nào... Đấy cũng là chất thẩm mỹ ở ngay trong công tác bê tông cốt thép, chưa nói gì tới ốp đã mầu và trang trí khác. Thấy anh em lính thợ đã biết quan tâm tới phần thẩm mỹ khi lên phần nổi, các cán bộ phụ trách nhất là các kiến trúc sư tỏ ra rất vui. Tất nhiên các cán bộ, các kiến trúc sư, kỹ sư cũng hiểu là vẫn cần phải nhắc nhở anh em lên phần nổi cũng còn những khó khăn phúc tạp nữa như thợ bệ tông vẫn phải phối hợp tốt với thợ ộc và anh em công binh chuyên lắp máy, không khác dưới phần ngầm nhiều lắm đâu.

Quang cảnh thi công trên phần nổi cũng có cái khác: tất cả vật tư phương tiện, nhất là người đều ở trên mặt đất hết, nên chung quanh càng bề bộn nhưng không khí lao động dường như cũng nhộn nhịp và tập nập, đông đúc hơn dưới phần ngầm.

Lính trẻ vui vẻ tếu táo "Tuyên bố": "Bây giờ mới rõ mặt anh hung! Dưới phần ngầm dẫu sao vẫn cứ như ở trong hầm!"...

Cùng dịp này, việc cải tạo nâng cấp quảng trường Ba Đình cũng ráo riết hơn, cụ thể hơn trước. Lẽ ra đã phải tiến hành mạnh việc này từ sơm, nhưng vì mấy tháng đầu thi công Lăng Bác gặp nhiều khó khăn trong kỹ thuật và nhân lực. Tuy nhiên cũng đã thành lập được Ban kiến thiết, tập trung được gần 100 cán bộ như nhiều người đã biệt, và anh em cũng đã tiến hành được khá nhiều việc như: đo đạc, khảo sát lại toàn bộ quảng trường cũ về thổ nhưỡng, về các hệ thống cống rãnh, nước ngầm, hệ thống điện và các hệ thống phát thanh, truyền hình, thông tin... Cả phương ấn cụ thể mở rộng quảng trường ra 3 ha - sau có thể tới 4ha.. cũng đã được bước đầu được lập ra. Đến khi Liên Xô gửi sang bản Thiết kế cơ bản của bạn về tôn tạo quảng trường Ba Đình thì phần ngầm của Lăng đã sắp xong, Ban xây dựng Lăng thấy đã có thể và phải nghĩ tới việc phải xúc tiến mạnh mọi mặt để có thể nhanh chóng đi vào thi công ở Quảng trường không thể để chậm.

Do đó, Ban phụ trách xây dựng Lăng đã đề nghị với Bộ quốc phòng về sự cần thiết tổ chức ngay một Ban kiến thiết và đã tập trung được 75 người - 85% thành viên là người của Phòng sân bay - không quân. 15% là người của các Bộ Vật tư, Tài chính, Xây dựng... Trưởng ban đã được chỉ định là đồng chí Nguyễn Văn Tưởng (quân đội). Ban Kiến thiết cũng nằm dưới quyết chỉ đạo của Ban xây dựng Lăng. Ban Xây dựng Lăng đã quyết định: phải khởi công. Công nhân đã được tập trung về khá nhanh và khá đông và đã bắt tay vào những việc cần làm ngay như dọn dẹp mặt bằng, tháo dỡ những gì cần được sớm tháo dỡ để mở rộng quảng trường và thi công. Cũng vừa lúc bên Lăng Bác công việc "Xây" bắt đầu chuyển cả lên phần nổi một cách tưng bừng, phấn chấn.

Chuyển lên phần nổi, anh em công nhân và cả cán bộ để có nhiều cảm xác khá mới.

Lúc đầu, khi mới nghe nội dung chủ yêu trên phần nổi là "Xây" các bức tường cùng các cầu thang lên xuống và mái Lăng, quân ta nghe có cảm tưởng như khối lượng công việc "Xây" trên này ít nặng nhọc và phức tạp hơn dưới phần ngầm. Nhưng nay bắt tay vào làm thì thầy phần nổi cũng không hề dễ dàng. Trước hết kích cỡ các phòng trên phần nổi nhiều khi không đồng đều, vì trên này các phòng hầu hết có mục đích sử dụng khác nhau như văn phòng, phòng khách, phòng trực máy... nhất là phòng Bác. Do đó ở phần nổi các bước tưởng thường không theo một quy luật rõ ràng và nhất định, từ đó dẫn đến việc xây lắp sẽ có những yêu cầu khó khăn, phức tạp.

Tuy nhiên đặc điểm nổi rõ nhất của tầng nổi khác với tầng ngầm là yêu cầu về thẩm mỹ rất cao. Tính mỹ thuật ấy đã được thể hiện ở kiểu dáng trong thiết kế, tuy nhiên yêu cầu về thẩm mỹ công trình còn phải được thể hiện tốt trong khâu xây dựng của những người thợ bê tông, thợ máy... Hiểu ra, anh em thợ hoàn toàn đồng tình. Lăng Bác phải rất đẹp - đẹp nhưng không hề giống như các chùa chiền trong nước, hoặc Lăng tẩm, lâu đài cổ xửa ở nhiều nơi trên thế giới. Lăng Bác sẽ có một vẻ đẹp khác: một vẻ đẹp vừa mang dáng vẻ hiện đại vừa mang tính dân tộc; bề thế mà tao nhã, uy nghi mà giản dị, gần gũi, y như phong cách của Bác. Và anh em đã lao vào làm việc, người nào cũng làm rất tốt nhiệm vụ của mình với niềm phấn chấn mới. Một số anh em đã cùng có một cảm giác tưởng nhất rất lạ mà có thực; cảm thấy dường như lên đây đã được gần Bác hơn khi còn làm ở dưới phần ngầm. Lên tới đây như sẽ sớm thấy được Bác về. Cảm giác ấy làm cho mọi người rất vui.

Vui nữa là cũng vừa dịp bắt đầu lên phần nổi có tin 2 vạn tấn đá Hoa cương - thứ đá rất quý hiếm - do Liên Xô giúp đã tới Hải Phòng. Đó là loại đã học cực rắn, chịu được sức nóng mặt trời miền nhiệt đới, lại tuyệt đẹp với sắc mầu và vân hoa khá độc đáo. Chu đáo, bạn đã xẻ, đã mài thành những mảnh đá vuông vức, lớn, rất đẹp sang Việt Nam chỉ có việc ốp, không còn phải lo gia công gì thêm nữa. Đã hai vạn tấm đá ấy bạn còn gửi thêm cả đá Cẩm thạch. Cùng tới công trường còn có cả một kíp thợ chuyên ốp đá Hoa cương chuyên nghiệp của bạn. Dịp này nhà máy cơ khí An Dương cũng báo cáo đang miệt mài tiếp tục xe, mài đá ốp các loại do các địa phương trong nước gửi về. Đã sản xuất được cùng gần vạn tấm các loại với sắc mầu và vân hoa khác nhau để gửi lên Lăng...

Tin đá Hoa cương cùng đá Cẩm thạch Liên Xô đã sang cùng cả đội công nhân óp đã ấy đã được Ban chỉ huy công trường loan báo cáo cho anh em thợ cùng biết, cùng vui và cũng là để thúc đẩy công việc xây phần nõi nhanh chóng. Đá mầu đã sẵn sàng cũng có nghĩa: chỉ còn chờ có bên tông.

Quả nhiên, tin vui này đã làm cho toàn công trường càng them hào hứng.

Phần nổi của Lăng có hai khán đài hai bên - mỗi khán đài dài 67 mét có các bậc ngồi từ thấp lên cao. Ở giữa hai khán đài ấy là khối chính Lăng hình vuông, mỗi bề rộng 30 mét, cao 21 mét 50. Liền ngay phía sau khối chính giữa ấy là một hầm đặc biệt để phòng chiến tranh... Theo thiết kế, khối chính Lăng đượ xây giật thành ba cấp theo truyền thống kiến trúc cổ xửa của ta xưa. Cấp thứ nhất ở dưới cùng là cấp lớn nhất, được coi như là bệ Lăng, cũng giật làm ba cấp nhỏ. Ở cấp nhỏ thứ nhất của bệ Lăng có cửa chính ra vào trông ra hướng đông. Qua của này vào là một tiền sảnh rộng rãi. Hai bên sảnh là các phòng khác, phòng làm việc và một số phòng kỹ thuật. Cấp thứ nhỏ hai của bệ Lăng được kết cấu làm lễ đài thay cho lễ đài cũ đã được dỡ bỏ. Đây sẽ là nơi Chính phủ và Trung ương Đảng sẽ tới dự và chủ trì những cuộc mít tinh và diễu binh lớn. Lên đến cấp giật lớn thứ hai, Lăng được xây thót lại nhỏ hơn phần bệ. Tầng (cấp) hai này là tầng (cấp) trọng điểm và thiêng liêng nhất, bởi ở giữa tầng này là phong trung tâm cực kỳ quan trọng - nơi sẽ đặt thi hài Bác. Từ cầu thang dưới sảnh đi lên phòng này, sẽ thấy trước hết hai có hàng cột xi măng cao tưới trần mầu đen tuyề, dài, và mỏng giống như những băng vải đen đều đặn ở hai bên tả hữu của phòng từ trên trần rủ xuống. Ở giữa phòng rộng và cũng là ở giữa hai hàng "Băng tang" này là một bệ đá hoa cương - một bệ hoa cương hết sức trang trọng - nơi sẽ đặt giường Bác nằm, với khung kính vũ trị ở trên hết sức tôn nghiêm. Viền chung quanh bệ Hoa cương là một đường diềm cũng bằng đã quý trạm trổ hình các hoa sen - loài hoa mà Bác hằng yêu thích. Sen cũng là tên quy Bác. Ở bên ngoài phòng trung tâm này là hành lang chạy chung quanh với những hàng cột vuông, cao, đỡ lấy mái Lăng ở trên. Những hàng cột tạo nên ở mỗi mặt có 5 khoảng cách gợi lên hình ảnh nhà 5 gian truyền thống của quê ta... Tóm lại, tầng hai của Lăng là trọng điểm, mà phòng Bác là trọng điểm của trọng điểm. Đến cấp giật lớn nhất thứ ba của toàn Lăng là tầng mái. Mái Lăng chỉ cao, dày có 3 mét, cũng giật cấp nhưng nhẹ nhàng, nhưng chỉ có lớp mái dưới là xoè ra với bốn góc cũng hơn vát lên theo phong cách xưa, tạo thêm vẻ dân tộc thanh thoát và trang nhã. Trên tầng mái này cũng có đặt máy móc, chủ yếu về thông hơi thông giá, và có cả thang máy để vận chuyển các thứ vật liệu xuống tại tận phần ngầm, hoặc ngược lại.

Trong khi các thợ bê tông ở tâng hai chính Lăng miệt mài với bê tông cốt thép, đổ sàn, dựng cột "Xây" tường thì ở ngay bên cạnh quảng trường xưởng xẻ gỗ và xưởng mộc cũng hăng hái tiếp tục làm những bộ cửa lớn, nhỏ bằng những loại gỗ quý nhất cho tầng hai, "Tầng Bác sẽ về". Ông Mỹ chỉ huy trường công trường lại tới thăm nhóm thợ mộc. Khác với những chỗ bộ độ và công nhân tạm trú hoặc làm việc, ở khu vực gỗ mấy gia đình thợ mộc sống và làm việc như trong một xóm nhỏ vậy. Đủ nam phụ não ấu, với không khí rất "Tôn ti trật tư", thậm chí cả "Gia trưởng" giữa các ông cháu, cha con. Tất cả hơn sáu chục tay thợ tài hoa đã được các địa phương tuyển chọn để gửi lên Lăng. Có ông ở Thá Yên cùng quê với đồng chí Trần Phú (Hà Tĩnh) có anh ở Giao Hào - Cao Đạt (Nam Định) có cụ ở Yên Thế quê ông Đề Thám... Khi được tuyển, có cụ, có ông làm lễ gia tiên cầu các cụ phù hộ lên Lăng Bác phục vụ có kết quả. Có cụ còn đem theo cả cháu đi cho học việc luôn thể... ở cái "phân xưởng đặc biệt" này, các cụ không cho xẻ gỗ bằng cưa máy vì sợ mạch cửa của máy to sẽ hao gỗ quý. Phải xẻ tay. Các cụ cởi trần ra, hì hụi xẻ không chịu thua con chấu là mấy. Xẻ khá sớm, ngay sau khi có lễ khánh thành Lăng ít lâu khi mới chỉ có gỗ của một số tỉnh miền Bắc đưa về. KHi có gỗ xẻ, các nghệ nhân bắt tay ngay vào đóng các bộ cửa. Phần ngầm đã phải 100 bộ. Khi đó các cụ đã tự tổ chức một cuộc thi tài cho tất cả các tay thợ trẻ, không phân biết Đông, Đoài... Đề thi làm một kiểm mộng gỗ Trắc. Kiểu mộng này phải kết cấu bên trong, không có "ke", không có chốt, mà đủ sức giữ thăng bằng cho tấm cửa nặng hơn 60 kg mỗi lần đóng mở. Mông không chắc, không khẻo, cửa sẽ bị bửa ra, méo đi, không thể di động được... Có 35 người cả già cả trẻ hăng hái tham gia thi tài. Nhiều kiểu mộng đã được sáng chế. Có kiểm vuông, có kiểu hình chữ thật, có kiểu mộng xiên như góc các khung ảnh. Những kiểu được mọi người "Chịu" nhất là của một tay thợ trẻ người Giao hoà - Nam Định. Kiểu này gọi là "Mộng mòi", trông bề ngoài xiên góc, bên trong lại vừa lông ngang vừa thắt dọc, đặc biệt là đã đóng mộng vào là chịu hết, không mở ra được nữa, chỉ có đập, phá ra. Mộng này lắp vào, bên ngoài các đường vân thớ gỗ vẫn đẹp, nom y như lion một khối gỗ chưa không phải những mảnh khác nhau ghép lại. Ngay lập tức kiểu mộng lạ lùng và tuyệt với ấy được đưa lên Ban chỉ huy công trường xem. Ban chỉ huy công trường lập tức khen thưởng ngay cho chàng trai Giao Hoà ấy, và quyết định cho toàn công trường phải dùng kiểu Mộng Mòi này cho tất cả các loại cửa trong Lăng... Khi ông Mỹ hỏi cậu thợ trẻ có ý kiến gì không, cậu chỉ bẽn lẽn: "Cháu xin dâng kiểu mộng này lên Bác. Và cháu chỉ xin khi nào lên phần nổi làm tới phòng Bác, cháu lại xin xung phong!"... Ông Mỹ ôm lấy cậu bế bổng lên giữa tiếng cười vui của mọi người.

Tạm biệt "Thể giới" thợ mộc đáng yêu ấy, Mỹ lại tìm tới chỗ của anh em tiểu đoàn 2 Công Binh - đơn vị vẫn còn ở lại công trường chuyên làm nhiệm vụ về lắp máy. Anh em này cũng đã tích cực và tranh thủ tháo lắp được khá nhiều máy móc nhỏ mà ta sẵn có, khối lượng cũng đã có thể tới hàng tấn. Nay anh em cũng đang tập trung làm việc trên phần nổi mà chủ yếu là phòng của Bác sẽ về. Các cấu kiện và các phụ kiện và giây, ống cho điện, nước, và thông tin anh em đã chuẩn bị để khi anh em bên "Xây" làm xong bệ Hoa cương trên phòng Bác, là tiểu đoàn 2 sẽ lao vào ngay, lắp sẵn những cấu kiện dưới bệ hoa cương của Bác để chờ máy hiện đại sau sẽ về. Anh em Công binh tiểu đoàn 2 lúc này cũng tập trung vào việc kiểm tra và củng cố thêm về kỹ thuật cho các đường ống của hệ thống thông hơi, thông gió, điều hoà nhiệt độ - hệ thống quan trọng hàng đầu trong việc quả phục vụ hòm kính bảo vệ thi hài Bác. Để chuẩn bị cho hệ thống thông hơi, điều hoà mà Liên Xô đặt làm ở tây Âu sẽ về, anh em công binh còn phối hợp với bên "Xây" đã dựng xong một trạm lạnh với 6 cụm máy. Máy lạnh là tuyệt đối cần thiết, không thể thiếu được cho hệ thống thông hơi thông gió. Ông Mỹ cũng đã tới kiểm tra cụm 6 máy lạnh này và rất ưng ý...

Xem xét một lượt trong phòng Bác, nói chuyện với anh em tiểu đoàn 2 công binh xong, ông Mỹ ra ngoài hành lang ngắm nhìn gần như toàn cảnh công trường, ông càng cảm thấy vui và xúc động. Mùa thu đã lại về. Trời lại trong xanh dịu dàng. Nhìn sang hai bên Lăng, phía dưới một chút, hai lễ đài tả, hữu đã xong như dang tay đỡ lấy khối chính làm lộ rõ toàn bộ vẻ đồ sộ, bề thế, uy nghi của Lăng. Ông bỗng nhớ lại câu ngạn ngũ của Việt Nam "Trăm nghe không bằng mắt thấy". Đúng là ông đã được xem biết bao lần các thiết kế và các bản vẽ của Lăng, nhưng được nhìn thực sự hôm nay được ôm lấy nó trong tay mới càng thấy rõ hơn tất cả vẻ đẹp ấy.

Rồi ông quay lại như ôm lấy từng chiếc cột. Dù mới chỉ là bê tông tho nhưng những chiếc cột này đã rất đẹp, thẳng tắp và đều đặn vô cùng, không thua kém gì các cột, trụ các đền đài cổ xưa nổi tiếng trên thế giới.... Và ông càng cảm thấy Lăng Bác sắp thành công.

Trong khi ấy ở ngoài quảng trường mới được mở rộng, ông Nguyễn Văn Tưởng chỉ huy trưởng xây dựng ở đây đang không khỏi sốt ruột và cả lo lắng về thời gian, Ngày, ngày, ông như "Chạy" quanh quảng trường suột buổi, gặp hếu khắc các bộ phận từ trồng cây tới điện nước, và san lấp mặt bằng quảng trường đã được mở rộng ra thành 3 ha. Ông rất vất vả vì công việc ở đây rất nhiều, công nhân cĩng đông như hầu hết là thành niên của 14 tỉnh gửi về tinh thần thì có nhưng tay nghề anh chị em gần như không. Đã phải huấn luyện cấp tốc nhưng vẫn chưa có chuyển biến lớn. Nên hiện khối lượng công việc chung của quảng trường mới đạt được chừng 50 phần trăm. Đang cố gắng đẩy mạnh hơn nữa. Ông lo nhất là mặt bằng quảng trường, rồi mới đến cây xanh và hoa tươi quanh trường và sau Lăng... Mặt bằng quảng trường, nếu theo thiết kế của Liên Xô sẽ là một mặt mênh mông toàn là bê tông cốt thép. Thết kế ấy đã được các chuyên gia Giệt Nam xem lại và thấy bạn là dân xứ lạnh không hiểu hết cái năng nhiệt đới. Đã nắng như đổ lửa, lại còn sân bê tông hắt lên, làm sao chịu nổ?. Nghĩ mãi cuối cùng các kỹ sư, cán bộ của ta đã có một phương án rất hay là phải trồng cỏ, nhưng sẽ chia ra thành từng ô cho người dự mít tinh đứng. Chung quanh các ô cỏ ấy sẽ tạo những con đường nhỏ ngang dọc như bàn cờ, đường rộng khoảng 1 mét 50 cũng bằng bê tông nhưng trên có gắn một lớp sỏi cuội vừa đẹp vừa đỡ nóng. Các chuyên gia bạn được nghe trình bày phương án các ô cỏ đã xem xét lại rất kỹ rồi cùng nhất trí và phải khen là Việt Nam hết sức thông minh. Bộ CT đã tán thành phương án này và quyết định cho làm. Nay các nhóm công nhân đang bắt tay vào thực hiện. Ông Tưởng đang mong và cả hy vọng là các ô vuông cỏ và những con đường sỏi ngang dọc ấy sẽ được hoàn thành đúng hẹn của trên.

Cũng thời gian này trong chiến trường cũng đang càng phát triển rộng lớn và rất sôi động. Quảng trị, Huế - Thừa Thiên đã mở được nhiều vùng, dồn dịch chủ yếu vào các đô thị và các vùng ven biển. Khu 9, Khu 10 Nam bộ cũng đã giải phóng hàng chục vạn dân, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của địch. Rồi sau chiến thắng rất lớn ở Thượng Đức (tháng 8 - 1974)...

Trước những chiến thắng còn đang tiếp diễn khắp miền Nam. Bộ CT của ta đã triệu tập ngay một cuộc họp hết sức quan trọng ngay trong tháng 7(1974) ở Đồ Sơn để nghe Bộ Tổng tham mưu báo cáo tình hình mới nhất trong chiến trường. Vừa nghe, Bộ Ct vừa đặt ra những vấn đề lớn và yêu cầu Bộ Tổng Tham mưu báo cáo sâu thêm những điểm cần thiết. Rồi đồng chí Lê Duẩn đã phân tích một cách rất sâu sắc đặc điểm của tình hình mới... Rồi từ những ý kiến chỉ đạo của Bộ CT, Bộ tổng tư lệnh đã gấp rút chuẩn bị lực lượng và một kế hoạch quân sự rất lớn... (đến cuối tháng 9 - 1974 Bộ Tổng tư lệnh đã trình lên Bộ CT một bản kế hoạch rất cụ thể về chiến lược cơ bản giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 1975 - 1976 - Nhưng tuỳ hình hình phát triển, nếu có thời cơ, ngay trong 1975 sẽ quyết dứt điểm!

Như thế, giai đoạn cuối của công trình Lăng Bác gần như trùng hợp hoặc tương đồng với tình hình chung của cả nước cùng quyết tâm lớn của Bộ CT và TƯ nhanh chóng giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Nếu quả là có một sự trung hợp, hoặc tương đồng như vậy thì cũng thật là một điều gì đó thật diệu kỳ...

Tình hình chung của Đất nước đang như càng chói sáng lên, tất cả mọi người, trong đó có cả anh em đông đảo trên công trường xây Lăng Bác và cải tạo và nâng cao quảng trưởng Ba Đình đều vô cùng nao nức.

Bên công trường Lăng, những công việc cuối cùng của xây phần thô đã sắp đi tới kết thúc. Ở tầng trung tâm - tầng chính Lăng, nơi có phòng Bác về đã hoàn tất và đã được kiểm nghiệm, được đánh giá là không thể chê trách, nếu không muốn nói là quá đẹp, quá tốt. Bây giờ đến lượt tầng mái sắp xong. Anh em công nhân đang chuẩn bị lợp một mái đồng dày ba, bốn ly trên mái bê tông để vừa chống sét vừa chống thấm. Anh em công binh lắp máy cũng đang chuẩn bị để cẩu các máy móc vận chuyển vật liệu cần thiết lên mái này.

Đã dần dần sang cuối tháng 10. Đã cuối thu, mùa đông đã bắt đầu ló dạng thi thoảng với những đợt gió mùa đông bắc sớm. Tuy nhiên dẫu sao ở phần bệ và hai khán đài bên Lăng, cũng như ngoài quảng trường cũng không hề hấn gì lắm, chỉ gay gắt, tím tái đối với anh em công nhân vẫn còn phải ngồi trên những tháp cần cẩu lớn của Liene Xô mới sang, để phục vụ những việc hoàn tất phần cuối cùng của "Xây" là phần mái. Cái khó nhất ở mái là ở bốn góc phải vát nhẹ lên theo phong cách cổ truyền. Phải ngửa mặt lên trên dàn giáo để thi công... Tuy nhiên những tin vui của Nam, Bắc như một nguồn động viên rất lớn đã làm cho anh em thợ vẫn gắng làm việc hăng say và rất khó có kết quả. Mặt khác, ở trên cao cũng có cái vui là được nhìm xuống bao quát cả toàn cảnh quảng trường Ba Đình. Thấy tất cả sự tập nập, và như thay da đổi thịt trong thấy từng ngày. Từ trên mái Lăng đang thi công, còn vui nữa là đã nhìn thấy ở dưới chân Lăng có nhiều chồng gạch Hoa cương đã được xếp đó đề rồi các thợ lành nghề ốp đã của Liên Xô với sự phụ giúp của công nhân Việt Nam được phân công đặc trách toàn bộ công việc ốp đã Hoa cương bên ngoài Lăng...

Thế rồi công việc đổ bê tông trên mái đã hoàn tất đúng ngày 30-10-1974. Ngay hôm sau 1 - 11 - 1974 toàn khối Lăng bắt tay ngay vào các công việc trát vữa trene các trần và tiến hành công tác ốp đá mầu cả ngoài cả trong Lăng với tất cả các phòng lớn nhỏ, tất cả các cầu thang, các khuôn cửa... cùng các việc trang trí khác.

Buổi đầu ốp đá mầu đầu tiên trong Lăng là ở một phòng khách. Trước mặt một số cán bộ, và một số công nhân ốp của ta, có cả tổ chuyên gia ốp đá của Liên Xô sang giúp cũng tới dự, buổi lễ dù giản dị nhưng ai cũng vẫn cảm thấy long trọng và đầy ý nghĩa. Hai đồng chí Đỗ Mười và Phùng Thế Tài cùng trực tiếp ốp hai viên đầu tiên coi như mở đầu cho cả thời kỳ ốp đá và trang trí ở Lăng... Trong căn phòng khách còn thô mộc và chưa có bất cứ bàn ghế hoặc trang trí gì, nhưng không khí "Ra quân ốp đá quý" cũng không ít vẻ trang nghiêm, đầy ý nghĩa. Khi hiệu lệnh của anh tổ trưởng ốp cất lên, lập tức hai đồng chí lãnh đạo cùng trang trọng mỗi người nâng một viên đá lên, đặt ốp vào mặt tường chính, chỗ đã có đánh dấu. Tiếng vỗ tay hoan hô vui vẻ của tất cả những người chứng kiến vang lên. Tất nhiên đã có tập dượt sẵn nên hai đồng chí thực hiện mọi động tác khá chính xác. Điều quan trọng trong việc ốp không phải chỉ là đặt viên đá vào tường thật phẳng, còn phải làm sao cho khe nối giữa viên này viên kía phải rất khít nhau, tạo cảm giác không có vữa liên kết mà chỉ có viên này và viên kia tựa, tính vào nhau. Cả hai đồng chí Mười và Tài đều làm được tốt. Thế rồi các thợ chính vào làm việc. Không khí càng thêm nhộn nhịp.

Rồi sau đó, hết phòng này qua phòng kia, ngày này qua ngày khác, công việc ốp đã được tiến hành khá mau lẹ. Phòng này mầu vàng, phòng kia mầu hồng, phòng nọ màu xanh vân... Tất cả đều tựa như từ trong mơ hiện ra. Mới hôm qua tất cả còn là những bức tường trần trụi mầu xi măng trắng mốc. Hôm nay đã như được khoách những tấm áo mới nuột nà với những màu xác khác nhau, nơi sang trọng, nơi nên thơ, hoặc trầm ấm, sâu sắc... Ốp đá là một ngành mới ở nước ta, thợ ta cũng toàn thợ mới, tay nghề còn non, nhưng do được học tập tốt, hơn nữa với tinh thần có thể coi như đặc biệt của những con, cháu muốn đem hết sức, hết tài trí của mình ra để làm đẹp Lăng của Bác nên nhìn chung kết quả của công việc là đáng khích lệ. Chính những anh thợ chuyên nhiệm ốp đá của Liên Xô cũng đã vui vẻ thốt lên như thế.

Nhưng đẹp nhất, ấn tượng nhất phòng nơi Bác sẽ về. Toàn phòng đã được ốp bằng đá Cẩm thạch của Hà Tây - loại đá có vân hoa đẹp như mây vờn, màu trắng trầm sâu trang nhã không những tạo được mỹ cảm mà còn cả sự tôn nghiêm và sự yên tĩnh và cao quý. Cũng ở phòng này, phía trên bức tường chính - phía sau bệ hoa cương nơi Bác nằm - nổi bật lên hai lá cờ Đảng và cờ Tổ quốc kỳ, được ốp ghép bằng 4000 mảnh đá nhỏ đã được cắt mài cực kỳ khéo léo, tinh vi, đén mức ai chợt trông thấy có thể tưởng như cả lác pử cũng đang lay bay nhẹ nhàng. Tìm được đúng đá quý cò màu đỏ cờ, rồi mài dũa và lắp ghép được nên hai lá cờ này là một kỳ công. Thoạt đầu không tìm đâu ra thứ đá đỏ như cờ. Các nơi gầy, xa đã cố công tìm kiếm khắp, đều không có, chỉ riêng Thanh Hoá đem về được đá Cẩm Vân. Nhưng chỉ đỏ nhờ nhờ, hoặc màu da cam. Đã gần như hết hy vọng thì bỗng có tin báo về: có một can bộ địa chất đã cố gắng lăn lội tiếp sâu vào tận một thôn nhỏ của làng Ruồng xã Điền Hải huyện Bá Thước - một huyện ở vùng rừng núi xa xôi phía tây Thanh Hoá - nơi có dấu chân voi chiến của Lê Lợi xưa luyện quân ở đấy để chống ngoại xâm dành lại đất nước. Phát hiện ra thứ đá đỏ này là nhờ bà con dân tộc Mường ở Ruồng mách bảo. Một số đá mẫu đã được tổ địa chất đưa ngay về Hà Nội. Các nhà chuyên về đá quý hiếm, các nhà địa chất lão luyện, các nhà khoa học uyên bác đã được tập trung ngay để làm các xét nghiệm... Và cuối cùng tất cả cùng reo lên "Đá đỏ đây rồi! Hoàn toàn là màu cờ đây rồi!" Tin vui lập tức được báo cáo nay lên Bộ CT. Thế rồi một công trường khai thác đá đỏ ở Ruồng - Bá Thước đã được Tỉnh uỷ Thanh Hoá và Huyện uỷ, Uỷ ban hành chính Bá Thước đã được mở ngay tại chỗ. Hàng nghìn thanh niên nam nữ trong huyện đã tình nguyện tới công trường để khai thác thứ đá đỏ đặc biệt ấy. Tuy nhiên lại không có nhiều đá này. Sau hàng tháng trời chỉ khai thác được đủ số đá cần dùng. Nhân dân địa phương nói đó là "Trời đã định thế. Chỉ cho mình đủ đá quý để ghép cờ ở Lăng Bác". Còn đá màu vàng để ghép ngôi sao trên quốc kỳ và hình bừa liềm trên cờ Đảng cũng đã kiếm được. Một điều nữa rất hay đã xảy tới: Khi sắp ghép cờ, đồng chí Nguyễn Văn hiếu thay mặt Đảng bộ và nhân dân miền Nam đem ra hai viên ngọc Mã não để dâng lên Lăng BAc, một viên màu đỏ, một viên vàng. Bộ CT đã đón nhận và quyết định ngay - theo gợi ý của các nhà chuyên môn và các cán bộ khác - viên Mã não đỏ ghép với cờ Tổ quốc, còn viên Mã não vàng thì ghép vào chỗ hai cán búa, liềm đều màu vàng giao nhau trên cờ Đảng. Sự việc đã được giải quyết quá hay, làm mọi người vô cùng hài lòng, hoan hỉ.

Nhưng không phải chỉ có hai lá cờ hết sức quý báu ấy, trong công việc trang trí và ốp đá ở Lăng còn có một trọng điểm nữa: ấy là tiền sảnh ở dưới tầng bệ - nơi bất cứ ai vào Lăng viếng Bác trước hết cũng phải qua sảnh rồi mới lên được phòng Bác. Tiền sảnh được ốp đá hoa cương màu hồng đậm, ấm áp mà đẹp. Sảnh rộng nhưng không bày một thứ gì ngoài mấy chậu cây nhỏ dưới chân bức tường chính diện. Sự thoáng rộng đã làm tăng thêm vẻ sang trọng của toàn sảnh. Nhưng điểm mấu chốt có tác động mạnh hơn và thu hút được sự chú ý của mọi người ngay trong những giây phút đầu tiên đầy xúc cảm bước vào sảnh này là ai cũng nhìn thấy trước hết bức tường lớn chính giữa đã có gắn ốp bằng đá quý câu nói tuyệt vời, bất hủ của Bác như đã thành chân lý không phải chỉ cho riêng Việt Nam mà như cho cả loài người: "KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO". Bên dưới, là chữ ký của Bác được phóng to: "HỒ CHÍ NMINH" rất đẹp, rất chính xác. Tất cả toàn một màu vàng ròng...

Đó là trong Lăng, ở mặt ngoài, đá ốp toàn bộ là hoa cương loại 1. Công tác ốp đá này hoàn toàn không giống ốp các đá men xứ thông thường. Hoa cương và các loại đá quý, lại rất nặng, rất khó ốp, phải có kỹ thuật và có cả mỹ thuật. Từ việc chuẩn bị đá đã hết sức phức tạp: chọn loại nào với loại nào cho đúng thiết kế, không được lầm lẫn, để cho nhà máy xẻ rồi mài cho đúng với kích cỡ thật chính xác. Rồi phải khoan lắp các móc sắt để móc treo vào mành sắt gắn trên các mặt tường bê tông. Ốp treo cũng phải chính xác, các mảnh đá phải theo thứ tự đã có đánh số; không được lầm lẫn, tuỳ tiện. Đá đã được đánh số từ 1 trở đi, không được tuỳ tiện ốp gắn vào ô số 2 hoặc số 3... Các hàng cũng thế đều đã tĩnh toàn, và có đánh số hết, các mảnh đá ở hàng số 1 không được lẫn xuống hàng số 2 hoặc số 3... và ngược lại. Công phu và nghệ thuật đến thế quả là chưa hề có ở nước ta... Để thực hiện công việc rất tỉ mỉ, khoa học ấy phải chia đội, đội phải chia tổ. Mỗi đội từ 50 tới 60 người. Mỗi tổ từ 12 tới 15 người, mỗi tổ còn chia thành 2 nhóm. Phải toàn là những tay thợ lão luyện của Nga cả. Nhân viên phụ tức quân ta chủ yếu là đổ vữa. Trong kỹ thuật ốp đã quý, việc xác định và đặt trung "Tim" là quan trọng bậc nhất, kể cả "Cao độ" cũng là điều quan trọng không kém. Nếu ốp mà sai "Tim", sai "Cao độ" là phải sửa lại rất khó khăn phức tạp, ngay thợ giỏi có khi cũng sai, phải làm lại cả từng hàng, hoặc từng cột... Cho tới khi ốp xong, còn biết bao công việc nữa như lau chùi, và rửa đá... Đó là chưa nói tới thời tiết. Công việc ốp đá đang vào mua đông. Bên trong Lăng còn đỡ, ngoài Lăng gió lạnh nhiều hơn như cắt da cắt thịt. Khi ốp lên cao càng gay go, quyết liệt... Tuy nhiên các chuyên gia và anh em thợ Liên Xô vốn quyen khí hậu miền nhiệt đới gió mùa, cũng khó chịu cả cái rét ẩm ướt ở nước ta, dù họ là dân xứ tuyết. Tuy nhiên không một anh nào xin nghỉ việc dù chỉ một ngày.

Đồng chí Trường Chinh đã ra tận nơi chỗ anh em thợ Liên Xô ốp đá ngoài Lăng để thăm hỏi và động viên. Một anh thợ ấy đã cười rất hiền đáp lại "Anh Năm" của chúng ta bằng mấy câu tiếng Việt bập bẹ: "Bác Hồ cũng là của chúng tôi là!"...

Thế đấy, toàn Lăng đã dần dần như được khoác bên ngoài một bộ áo hoàn toàn mới bằng vủi quý màu xám xanh với những đường vân hoa chìm rất sâu và sang trọng. ốp đến đấu toà Lăng đẹp và uy nghi đến đấy....

Cùng thời gian này anh em công binh cũng dốc sức lao vào việc lắp máy. Có thể như nhìn thấy ngày toàn thắng của công trường sắp đến rồi! Đã từng luôn nhắc nhở, nhưng tới lúc này các đồng chí lãnh đạo vẫn nhắc anh em phải: "Hết sức thận trọng, hết sức tỉ mỉ, chu đáo, không được chủ quan sai một ly trong công việc". Đồng chí Phạm Văn Đồng cũng đã đến với anh em Tiểu đoàn 2 công binh lắp máy trong những ngày đông giá lạnh nhưng công việc lại rất "Nóng", thậm chí "Rất nóng" này. Thời gian đang dục dã. Đồng chí cho biết: đồng chí được nghe báo cáo và rất thông cảm là phần lắp máy đã phải vào cuộc chậm hơn anh em bên "Xây" do bản thiết kế thi công tháng 3 - 1974 vừa qua mới xong, và chậm còn do việc Liên Xô phải đặt một số máy móc, nhất là hệ thống thông hơi, điều hoà không khí - bộ phận quan trọng nhất và cũng lớn nhất - phải đặt làm ở Nhật, Mỹ, Đan Mạch.... nay vẫn chưa về, còn phải chờ. Vẫn theo lời "Bác Tô", tất cả các đồng chí lãnh đạo đều biết anh em rất tích cực, đã chủ động tranh thủ lắp được hàng tấn máy, điều này tất cả anh em các bộ phận khác cũng đã biết, rất đáng hoan nghênh.. Nghe ý kiến đồng chí Thủ trưởng, anh em lắp máy rất cảm động thấy đồng chí cũng rất sâu sắc và giàu lòng cảm thông. Anh em đã báo cáo: nay anh em đang làm tiếp công việc hoàn thiện phần điện trạm nguồn. Các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật đã tới để giúp anh em trước hết là lắp trạm biến áp 3x1000KVA. Cụm này được coi là "Quả tim của công trình"... Rồi còn phải đưa, đặt nhiều động cơ điện từ 0,6 tưới 2000KW vào vị trí cho đủ. Rồi còn phải đưa, đặt nhiều động cơ điện từ 0,6 tưới 2000KW vào vị trí cho đủ. Rồi còn buồng điều độ trung tâm, ở đó phải lắp các bảng điều khiển, kiểm tra hệ điều hoà không khí... Tuy không nặng nhọc, vất vả lắm, nhưng phần này đòi hỏi sự tỉ mỉ rất cao nên cũng thợ cũng khá căng thẳng. Nhưng anh em hiểu các bảng này rồi sẽ thay con người làm những việc chi li, tinh xảo, tự động báo những con số, những sai sót để kịp thời điều chỉnh hệ thống điều hoà... Vẫn chưa hết, còn tổng đài điện thoại 100 số, còn hệ truyền hình công nghiệp cũng đang bắt đầu lắp rất công phu, tỉ mỉ... Nhưng còn quan trọng hơn, anh em báo cáo là đã lắp được 6 trạm lạnh tới cần thiết cho hệ thống thông hơi điều hoà nhiệt độ, và cũng đã giúp đỡ, kiểm tra liên tục các đường ống thông hơi sản xuất ở "Xưởng dã chiến" ngay gần công trường. Những ống này sẽ để phục vụ cho hệ thống thông hơi điều hoà nhiệt độ... Miệng báo cáo mà trong lòng anh em cứ sợ bác Đồng thấy quá nhiều việc mà lo ngại cho sức khoẻ của anh em. Tuy nhiên vẫn cứ phải báo cáo và nhấn mạnh tới sự mong đợi nhất của anh em lúc này là hệ thống thông hơi, và điều hoà nhiệt độ - hệ thống máy quan trọng bậc nhất ở đây cùng các vật tư đặc biệt phục vụ chung quanh bệ đặt thi hài Bác từ hòm kính tới bộ máy chuyển Bác xuống phần một để làm thuốc rồi lại nâng Bác trở lên bệ hoa cương với khả năng vận chuyển an toàn cả trong tình huống có bom đạn ở ngay tại địa điểm này... Cả hai khối vật tư này đều chưa sang. Nhưng anh em cũng được biết trước là khi các vật tư ấy sang, các chuyên gia Liên Xô sẽ được phân công chủ yếu chịu trách nhiệm lắp rắp toàn khối vật tư của vị trí đặt thi hài Bác-tất nhiên cũng có anh em Việt Nam phù trợ và để học tập thêm. Còn phần lớn, anh em ta chủ yếu phụ trách khối vật tư, máy móc của hệ thống thông hơi điều hoà nhiệt độ... Đồng chí Đồng lắng nghe và tỏ ra rất hiểu và càng cảm thông trước tinh thần và tình cảm của anh em. Trước khi ra về đồng chí chỉ còn dặn thêm một câu như gan ruột: "Các đồng chí vừa là chiến sĩ lại vừa là công nhân, vậy hãy tiếp tục nêu cao tấm gương tiên phong và quyết tô thắm thêm truyền thống vẻ vang của "Bộ đội Cụ Hồ!".

Tất cả các chiến sĩ xúc động, cùng mạnh mẽ hô vang những lời hứa nồng cháy của mình, và tiễn đồng chí Thủ trưởng ra về.

Thế rồi anh em lại bắt tay ngay vào các công việc của mình với máy lớn, máy nhỏ, sắt, thép, điện, nước, gió, hơi... Thi thoảng ngoái nhìn ra phía quảng trường thấy đã cỏ xảnh đã bắt đầu hiện lên từng mảng lớn, lính ta lại càng sốt ruột mong hệ thống thông hơi điều hoà nhiệt độ Một cậu bung ra một câu đùa, vui mà cũng... cay:  Khéo mọi người sẽ ra về hết, chì còn cánh tay ở đây đợi máy và dự quốc khánh 1975 ở đây luôn!".

Nhưng rồi chỉ mấy hôm sau, "Đùng" một cái, tin vui lớn bay về như chớp giật sáng loà cả công trường: Tầu chở vật tư của hệ thống thông hơi điều hoà nhiệt độ đã về tới phao số 0 của cảng Hải Phòng! Tất cả cán bộ, công nhân, cả bên Lăng, cả quảng trường đều như nhảy cả lên reo mừng.

Đồng chí Đỗ Mười cấp tốc triệu tập các cán bộ có nhiệm vụ tổ chức vận chuyển "Hàng" đến hội ý. Mệnh lệnh: Phải về sơm. Chỉ cho 5 ngày! Trên này sẽ lo hỗ trợ các mặt về tầu xe và giao thông! (Thông thường "Hàng" lớn như thế này phải hàng tháng mới lên tới Hà Nội. Đúng là mệnh lệnh như lửa cháy). Một chiếc "Con măng ca" đưa anh em vù đi Hải Phòng nay, chở theo mấy cán bộ Đường sắt, mặc dầu trời đã tối. Đúng 23 giờ 30 hôm đó đoàn cán bộ Hà Nội gặp giám đốc Cảng, treo lệnh của trên. Sau một thoáng suy nghĩ, ông giám đốc cảng đề nghị: Dẫu sao cũng khuya rồi, để sớm mai, các phái viên của hà Nội sẽ cùng ông sẽ ra thẳng phao số 0 gặp chủ tầu làm việc trực tiếp luôn. Đồng ý. Sáng kiến hay mà cũng tích cực! Đúng 5 giờ 30 sáng hôm sau, sương mũ còn chưa tan, một chiếc canô chở đoàn cán bộ Cảng và Hà Nội đã lướt sóng nhanh chóng ra tới phao số 0, cặp mạn con tầu Balan rất lớn do Liên Xô thuê để chuyển hàng sang ta. Giám đốc Cảng thông báo cho chủ tầu là ngay chiều nay, chờ con nước, tầu này sẽ được phép ưu tiên số 1 trong số 15 tầu khác cũng đang chờ ở đây, vào cảng trước. Nghe xong chủ tầu hết sức vui mừng. Chưa nói chuyện gì nhiều, ông ta mở ngay sâm banh mời đoàn khách. Nhưng khách cần về ngay, chỉ chiếu cố mỗi người nhấp một chút rồi bắt tay chủ chủ tàu, xuống ca nô ngay...

Trong khi đó ở Hà Nội, Tổng cục Đường sắt cấp tốc điều 9 toa xe lửa võng xuống ngay Hải phòng để đón hàng. Phải là toa xe võng vì biết trước là hàng lớn, quá khổ, chở toa thường sẽ không qua nổi cầu Long Biên. Nhưng các xẽ võng đều nằm rải rác suốt từ Lạng Sơn, Hà Nội tới Thanh Hoá. Để không lỡ thời gian, các trưởng ga có toa xe võng đều nhận được lệnh cho một đầu máy cấp tốc kéo ngay toa xe ấy xuống Hải phòng bất cả ngày đêm.

Ngay đêm ấy con tầu chở hàng Liên Xô thuê đã cập bến Hải phòng Cũng đêm ấy các toa xe võng cũng đã được nhanh chóng được nhanh chóng được tập trung ở ga Hà Nội rồi được đưa xuống thành phố biển luôn. Sự hiệp đồng thật tuyệt vời có lẽ chưa bao giờ từng có ở đây. Các đội bốc xếp cũng được Tổng cục Đường sắt trao trách nhiệm điều khiển đoàn xe lửa đặc biệt này. Mỗi toa xe còn có một Công an bảo vệ và một công nhân cầm một cây sào dài, để khi tầu gặp phải những nơi có giây điện giăng ngang sẽ dùng sao này đẩy cao giây lên cho tầu qua...

... Thế rồi công việc bốc xếp hàng từ tầu lên bến cảng đã hoàn tất với với một tốc độ phi thường chưa từng có, mà không một thiếu sót... Tiếp đó, các máy móc được cố định rất chắc chắn trên các toa xe võng. Và đoàn tầu đặc biệt với hoa và cờ đỏ thắm trên đầu máy, thét một hồi còi dài đầy vui mừng và cả kiêu hãnh, từ từ chuyển bánh... Suốt dọc đường sắt, ga nào cũng có nhân dân, ra chào đón.

Tầu về tới Hà Nội, đã có một đoàn xe tải chờ sẵn nhận hàng rồi chở thẳng về quảng trường Ba Đình. Cuộc đón tiếp giản dị nhưng vẫn đầy không khí trang trọng nhất là đầy vui mừng không khác gì đón gỗ, đá quý từ chiến trường trở ra.

Các chuyên gia Liên Xô được uỷ nhiệm kiểm luôn các mặt hàng. Thật tuyệt! Tất cả 240 tấn thiết bị dù qua bao biển lớn về tới đây vẫn hoàn toàn đầy đủ và nguyên vẹn... Một kỹ sư Nga vui vẻ nói đùa: "Lúc này chỉ cần thiếu một bộ phận nhỏ, chúng tôi chỉ còn biết ... khóc".

Nhưng chưa hết, một tin mừng lớn nữa lại tới.

Điện từ sân bay Gia Lâm báo về: Vật tư của Lăng Bác cũng đã tới!. Biết là những gì rồi: Đó là những thiết bị quý hiếm và rất hiện đại mà trong nước chưa hệ có, để hoàn chỉnh bệ đặt thi hài Bác. Ngay lập tức một nhóm cán bộ rất tin cậy được phái sang Gia Lâm ngay sáng hôm sau. Đúng 10 giờ, chiếc máy bay vận tải số hiệu 42988 hạ cánh. Một đội xe nối nhau bon bon tới ngay cuối máy bay. Hàng được chuyển xuống khá nhanh gọn. Phấn khởi qua,s các cán bộ, sĩo quan ta yêu cầu tổ lái máy ban cùng chụp chung một "Pô" ảnh làm kỷ niệm, rồi nhảy lên xe, ra lệnh thẳng tiến về quảng trường Ba Đình.

Các đồng chí lãnh đạo cùng các chuyên gia Liên Xô đã có mặt ở đó chờ sẵn. Hội trường Ba Đình đã được chọn làm "Kho" lưu giữ các vật tư đặc biệt quý hiếm này trước khi trao choanh em lắp máy. Tất nhiên như đã có quyết định, các chuyên gia sẽ trực tiếp lắp ráp toàn bộ các vật tư mới sang, dễ hiểu vì họ đã có học và giầu kinh nghiệm để làm tốt việc này, còn anh em Việt Nam sẽ làm lực lượng phụ trợ, cũng là để học thêm nghề...

Thế rồi ngay sau đó, ngày 1 tháng 3 năm 1975, Ban xây dựng đã phát động một đợt thi đua mới với thời hạn 40 ngày phải hoàn tất tốt đẹp cả việc lắp máy trên nơi Bác nằm, xong cả toàn bộ hệ thống máy thông hơi và điều hoà nhiệt độ dù rất to lớn và hết sức nặng.

Bộ phận cán bộ, chiến sĩ công binh lẽ cố nhiên lại vinh dự được phân công hỗ trợ bạn lắp ráp vật tư mới sang, để hoàn tất bệ sen sẽ đặt thi hài Bác và lắp đặt toàn bộ hệ thống máy thông hơi điều hoà "Lá phổi" của toàn Lăng. Đến gặp các chuyên gia Liên Xô, các chiến sĩ ta cùng bạn vào việc luôn. Anh em ta đều đã hiểu trong tất cả các máy móc tinh vi, hiện đại ở đây thì lồng kính (quan tài kính) là quan trọng hơn hết. Các tấm kính vốn được tháo rời khi chuyển bằng máy bay, nay sẽ được lắp lại bằng loại keo rất đặc biệt. Kính dày 20mm do công nghiệp vũ trị Nga sản xuất, cực kỳ trong suốt, đạn bắt không vỡ, mảnh lựu đạn không hề hấn gì, ánh mặt trời xuyên qua cũng không bị khúc xạ. Kính hai bên được lắp nghiêng góc 24 độ để nhìn rõ mà không biến hình, biến dạng. Trên móc hòm kính là hàng chục bộ các loại đèn với nhiều tia chiếu qua một hệ kính lọc, bảo đảm ánh sáng có thể tự điều chọn màu sắc và hạn chế nhiệt... Lắp đặt được tất cả những thứ này, các chuyên gia bạn cũng phải hết sức thận trọng từng động tác, toàn tâm trí đều để cả vào đấy với một niềm kính yêu chung vô bờ bến đối với Bác. Họ đã từng nói rất chân thành với các cán bộ và chiến sĩ ta "Bác Hồ cũng là của chúng tôi mà!".

Trong khi ấy, công việc của anh em công binh lắp hệ thống thông hơi điều hoà không khí cũng lao vào việc với tất cả tinh thần và sức lực của mình... Toàn là máy lớn, rất nặng. Công việc này cũng gần như rất mới mẻ với cán bộ, chiến sĩ ta, mặc dầu từ tháng 9 năm 1973 - năm khởi đầu xây Lăng, Ban chỉ đạo đã sớm cho một bộ phận cán bộ kỹ thuật sang Liên Xô để tham gia thiết kế, nắm trước được thiết kế và học cả phương pháp thi công để về nước chỉ huy lắp đặt máy. Nhưng nay đứng trước những máy móc lớn, tối tân này, anh em ta vẫn không khỏi lo lày sẽ phải vất vả tìm hiểu vì đây là sản phảm làm từ tây Âu, nhiều phụ tùng, linh kiện, mô-đun... rất khác của Liên Xô. Nhưng các chuyên gia và anh em ta bắt tay nhau cùng hứa hẹn: Mọi chuyện rồi sẽ phải tốt đẹp cả.

Một cuộc "Thi đua lắp ráp 40 ngày" đã được lãnh đạo phát động khá tưng bừng, coi như đợt thi đua cuối cùng. Các đồng chí lãnh đạo dù sao vẫn hết sức căn dặn: "Phải hết sức thận trọng! Phải tỉ mỉ, chu đáo! Không được để xảy ra sai sót, dù chỉ một lỳ!". Rất cẩn thận, không những động viên, căn dặn, các đồng chí lãnh đạo còn tổ chức một bộ phận kỹ thuật để hỗ trợ anh em thi công, gồm khá đông đảo cán bộ chuyên môn giỏi của các ngành: kỹ sư, cán bộ kỹ thuật thông hơi, điều hoà, điện, cơ khí, cả cấp thoát nước và trắc đạc... Rồi tất cả cùng vào việc. Mặt bằng thi công có phần chặt hẹp. Các máy móc, kể các đường ống hơi, ống nước... hầu hết đều rất cồng kềnh và rất nặng. Lúc này trên Lăng, anh em làm trang trí vẫn còn một số việc chưa xong như sơn, trát vữa, kể cả thợ điện, thợ nước... cho nên trên một khu vực tác nghiệp mà gần như có đủ các thứ "Quân": thợ cơ khí lắp ráp, thợ xây, thợ điện, thợ nước... Phải lợi dụng dàn giáo và các phương tiện của nhau mà làm. Cán bộ chỉ huy các tổ lắp máy đã cùng anh em quyết định làm cả 3 ca và thêm kíp nữa... Quang cảnh tấp nập, và tựa như đèn cù: Mới đêm qua trong phòng này anh em xây còn làm chủ, sáng sớm mai anh em thợ điện đã "Xung phong" vào ngay với nào ống hơi, nào ống điện và leo trèo lên như vượn để lắp. kéo dây chằng chịt trên các bức tường... Công việc luôn luôn phải đan xen liên tục. Nhưng không vì thế mà làm ẩu. Anh em vẫn luôn nhớ câu: "Chất lượng là mệnh lệnh của trái tim". Và cùng nhắc nhau: "Đoàn kết hợp đồng". Không khí làm việc như có men say. Những sáng kiến to, nhỏ không ngừng nảy nở như: hệ thống lạnh ở phòng trung tâm của Bác đã được cán bộ, chiến sĩ cùng góp trí, góp sức cải tiến được hệ điều khiển, nếu cứ để thao tác bằng tay sẽ chậm, khả năng xử lý khi có sự cố e không kịp, và bình thường mỗi lần có người ra vào tiếp xúc với các máy, sự ổn định nhiệt độ trong phòng Bác sẽ dễ bị hở van đột ngột. Hoặc như trong "Hào thông hơi" từ phần ngầm lên tới tâng kỹ thuật cao 21 mét (trên mái Lăng), không những có 5 ống hơi lớn mà còn là vị trí của thang điện. Đường ống dài, theo phương thẳng đứng, các ống rất sát nhau không có chỗ để thao tác bảo ôn và xử lý độ kín của các mối nối... Vậy làm sao có thể lắp tốt, tránh được mọi nguy hiểm? Các kỹ sư và công nhân ta đã bàn nhau và đã có giải pháp: phân đường ống ra thành nhiều đoạn, mỗi đoạn từ 2 đến 3 ống ghép lại. Rồi dùng tời để kéo từng đoạn ống lên và liên kết các đoàn với nhau; cứ thế lần lượt lắp đến đoạn cuối cùng. Kết quả là 5 ống nước được lắp rất nhanh, chất lượng tốt, an toàn tuyệt đối cho người và thiết bị. Cùng với các sáng kiến, các tấm gương lao động quên mình cũng liên tiếp xuất hiện cả trong hàng ngũ cán bộ, cả trong chiến sĩ.

Và cứ như thế, cho tới đúng ngày thứ 40 của đợt thi đua mới, cũng coi như cuối cùng, tất cả cán bộ chiến sĩ đều reo vang: "Chiến thắng! Chiến thắng!". Ấy là một ngày cuối tháng 12 năm 1974 không quên, khi mùa đông đang vào thời kỳ rét ngọt, nhưng hương xuân mới - xuân ất Mão - đã sớm như phảng phát đâu đây để gợi báo những tin vui to lớn và lịch sử cho Hà Nội và nhân dân của miền Bắc: trong Nam ta đang đánh rất mạnh, càng đánh càng thắng, Thiệu đã có nguy cơ xụp đổ đến nơi...!

Cũng trong những ngày cuối tháng 12-1974 hết sức sôi nổi này, Bộ CT lại có một cuộc họp lớn hết sức quan trọng nữa với các Tư lệnh chiến trường triệu từ trong Nam ra, để nắm lại tình hình đang diễn ra rất mau lẹ, nhận định về thời cơ lớn liệu đã bắt đầu có dấu hiệu xuất hiện? Và xác định quyết tâm chiến lược đánh lớn, đánh ngay, nhằm sớm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Trong lúc này, ở Lăng Bác công việc cũng đang đi vào giai đoạn cuối rất khẩn trương, các đồng chí lãnh đạo cũng hạ quyết tâm dứt điểm hoàn thành đúng kế hoạch 2 năm xây dựng... Hai sự việc lớn ở hai đầu Tổ quốc dường như đã có sự trung hợp thật kỳ diệu.

Đã sang xuân 1975. Thêm rất nhiều tin mới nóng bỏng báo ra: Trong Nam, quân dân ta tiếp tục chiến thắng gần như chẻ tre. Đồng thời ngoài Bắc, nhân dân ở các tỉnh, các quân khu đều biết khá rõ: nhiều đơn vị của quân đội đã im nặng nhưng rất dồn dập, cấp tốc di chuyển, mà ai cũng có thể đoán biết là vào Nam để tăng cường sức chiến đấu cho Mặt trận. Ngay trong lòng Hà Nội, nhiều tướng lĩnh trên Bộ, nhiều cán bộ lãnh đạo cao cấp các quân binh chủng cũng hết sức nhanh gọn rời khỏi thành phố, mà các gia đình đều biết là cũng lên đường vào hoả tuyến. Chưa bao giờ có cảnh cả nước ra trận như khi ấy. Đi bằng xe hơi. Đi bằng xe lửa, Đi đường bộ. Đi đường biển. Đi cả trực thăng. Đi cả máy bay vận tải, vượt tuyến đêm đổ quân ngay trong lòng địch.

Thế rồi cuối tháng 4 trời đất như sáng loà. Tin vui bay về như pháo nổ như mưa hoa: Sài gòn đã được hoàn toàn giải phóng. Toàn miền Nam của Tổ quốc đã được giải phóng hoàn toàn!

Niềm vui tràn ngập từ các thôn xóm hẻo lánh cho tới tất cả các thành phố lớn, nhỏ, từ miền xuôi lên miền ngược, từ biển lên rừng... Niềm vui ngây ngất. Niềm vui không chỉ bật ra bao tiếng reo, tiếng cười, mà còn trào cả ra bao nước mặt sung sướng. Đất nước quả là chưa bao giờ có niềm vui to lớn và xúc động đến như thế. Có lẽ cũng vì máu xương dân ta đã đổ ra đã khá nhiều rồi, chiến tranh đã quá dài, trên thế gian này có lẽ gầy đây chưa đâu có cuộc chiến tranh liền 30 năm. Đã chiến tranh là có máu xương, có chia ly, đau khổ, có lỡ làng, cay đắng... và trăm điều, ngàn điều gian truân cực khổ khác. Nay nghe tin chiến thắng có người khóc nhiều hơn cả cười, vì quá mừng, quá vui - mừng vui như trong một cơn mê không dám tin ngay là có thực, nhất là vợ những người vợ lĩnh, cha mẹ già của những chiến sĩ đã ra đi biền biệt... Khóc và cười. Cười và khóc. Tưởng trong những ngày như cuồng cả lên vì đại thắng, không ai còn có thể làm gì nữa ngoài reo cườn và khóc-khóc vì mừng. Nhưng không phải thế. Ở công trường Lăng Bác và quảng trường Ba Đình dù có bị gián đoạn gần như mất một buổi sáng cực kỳ mừng vui, đến chiều mọi công việc vẫn lại tiếp tục. "Đại thắng rồi, toàn thắng rồi, gắng nữa lên để mau đón Bác trở về Thủ đô yêu quý!..." Các cán bộ càng ra sức động viên.

Tháng 5 năm 1975. Không khí chiến thắng vẫn còn như chưa hết ngây nhất. Dân Hà Nội càng đến xem xây dựng Lăng và quảng trường thường xuyên hơn. Hôm ấy, có ba người vốn chó nhiều "Duyên" với nơi đây từ lâu cũng đi xem. Đó là ông Phạm Văn Khoa nhà hoạt động sân khấu và viết kịch và là cán bộ Việt Minh từ tổng khởi nghĩa tháng 8 năm 1945, đã được thành uỷ Hà Nội trao cho trách nhiệm làm gấp lễ đài Ba Đình để kịp ngày 2-9-1945. Người bạn đã gắn bó cùng ông trong việc này là kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh tác giả đã thiết kế lễ đài gọn nhẹ mà khá đẹp khi ấy. Người thứ ba là hoạ sĩ Trần Văn Hán, người cũng đã góp ý với ông Quỳnh vẽ kiểu lễ đài xưa cũng đi theo. Với tư cách những người đã trực tiếp làm lễ đài gỗ hồi cách mạng 8 - 1945, lần nào tới đây, ba ông đều được mời vào trong hàng rào công trường chưa dỡ, được tới gần Lăng và ra cả quảng trường. Coi như "Người nhà".

Cả ba đều ngạc nhiên và thích thú: Toàn bộ Lăng đã được dỡ bỏ các dàn giáo, hiện ra như mới lạ, và đẹp hơn lên nhiều so với khi còn bị dàn giáo vây quanh dày đặc, dù khi ấy vẫn nom thấy được, nhưng không sướng mặt như hôm nay.

- Hôm nay mới thực sự được xem rõ. Khá lắm! phải không hai "Ông?". Kiểu dáng không giống đâu hết, từ Âu sang á, cả Mỹ la tinh. Việt Nam lắm! Dản dị, thanh nhã mà cao quý!. Dân gian mà hiện đại! Không hề nệ cổ tí nào. Đúng là tính cách của "Cụ". Phải không? Ông Khoa nói đầy sảng khoái.

Ông Quỳnh gật đầu:

- Còn một vẻ gì như sâu xa lắm nữa, các anh ạ. Càng thấy làm Lăng để lưu giữ "Cụ" là phải quá. Thử hỏi, đấy, bây giờ đại thắng rồi, ít nữa bà con trong Nam ra còn thấy ai? Vẫn được trông thấy Cụ là một chuyện lớn lắm, thiêng liêng lắm, vĩ đại lắm các anh ạ, tôi nghĩ Thế!

Đứng ngắm mãi, dường như càng ngắm lại càng thấy đẹp. Việt Nam có chữ "Duyên thầm". Phải chăng ở đây đúng là một vẻ đẹp hoàn toàn không phô trương, không loè loẹt, diêm dúa, không trạm trổ, hoa lá, rồng phượng... cầu kỳ. ở đây là một vẻ đẹp với hầu như chỉ toàn mặt phẳng với những đường thẳng ngang dọc rõ ràng, dứt khoát, nhưng lại rất thanh tao, mềm mại và sâu kín như ông Ngô Huy Quỳnh nới. Càng ngắm càng thấy ý nhị, càng thấy gần gũi, càng thấy nhuần nhị, sang trọng mà kín đáo, cao quý mà dung dị...

Rồi cả ba cùng quay ra quảng trường. Nơi đây cũng vẫn chưa hoàn toàn xong tựa như bên Lăng cũng vẫn còn một số việc dù không lớn nhưng phải giải quyết nốt cho thật hoàn chỉnh cả trong lẫn ngoài. Nam nữ thanh niên, công nhân và cả bộ đội vẫn còn khá đông, nhộn nhịp khắp chỗ. Nơi vẫn còn đang đặt tiếp các công tiêu nước quanh quảng trường. Nơi vẫn đang chôn nốt các cáp ngầm cho hệ thống phát thanh và truyền hình. Nhưng tất cả trên 168 ô vuông cả xanh đã xong cùng những con đường bê tông phủ sỏi chạy ngang dọc đều tăm tắp. Tất cả đã tạo cho quảng trường nay đã khá rộng lớn hơn, một kiểu trang trí mặt bằng đẹp và độc đáo có lẽ trên thế giới này không đâu có. Đứng ngắm mãi sân cỏ đặc biệt ấy, sau đó ba ông bạn rủ nhau đi xem hoa và cây cảnh mà theo các ông cũng là một đặc điểm nữa của quảng trường hôm nay. Thật vậy, mặt bằng 3 ha với 168 ô cả xanh cùng những con đường sỏi ngang dọc như bàn cờ, và hoa và cây cảnh như cả một thế giới hoa tươi đẹp của Việt Nam được thu nhỏ lại quanh Lăng và quảng trường là hai đặc điểm nhất ở đây mà không phải ở đâu đâu cũng có. Ba ông bạn cùng đi tới cửa Lăng để ngắm hai cây đại rất đẹp, tuy không là loại cây lạ nhưng quả là mà hai ông chưa từng thấy ở đâu có. Cây đại như ở đây. Không cao, nhưng cành mập, khoẻ, dáng tròn, đẹp một cách rất cổ kính, hoa trắng thơm - mùi thơm rất hiền triết làm tăng thêm vẻ trang nghiêm và siêu thoát của công trình. Nhìn ra đường Hùng Vương chạy ngang qua ngay trước Lăng - nay đã được cải tạo lại mặt bằng rộng 60 mét bằng bê tông cốt thép để có thể diễu binh lớn với xe pháo hạng nặng. Dọc con đường đó là hai hàng Vạn tuế trông trước hai lễ đài hai bên chính Lăng. Vạn tuế cũng không phải loại cây lạ nhưng quý với thân mập thẳng, lá xum xuê trên ngọn, xanh ngắt, nom trang nghiêm như hai hàng tiêu binh đứng gác trước Lăng. Bên kia đường Hùng Vương còn có hai hàng Chò nâu từ đất tổ Hùng Vương đem về, với thân cao, thẳng, tán lá rộng xanh xẫm, dáng thật mạnh mẽ, hiên ngang tạo nên ý tưởng về một sự bền vững, bất khuất... Và ở hai đầu ngoài cùng của hai lễ đài là hai dặng tre luông mập mạp, cao lớn, xanh tốt lạ thường tạo nên rất rõ hình ảnh của dân tộc gốc từ nông nghiệp lớn lên phồn vinh, mạnh mẽ... Rồi ba ông ba đi vào phía sau Lăng, nơi càng như "Muôn hồng ngàn tía" với hàng trăm, hàng trăm loài hoa đẹp và quý của các nơi trên cả nước gửi về dâng Bác. Từ các loài hoa của Nam bộ, khu 5, Tây nguyên, Trị - Thiên gửi ra cho tới không thiếu thứ hoa quý hiếm nào ở khắp miền Bắc từ Hà Giang Lai Châu, Lạng Sơn, Cao Bằng xuống tới Quảng Ninh, Móng Cái và khắp cả khu 4 với Thanh - Nghệ - Hà - Quảng... Tất cả có thể gọi là cả một tiểu thế giới hoa tươi và canh xanh, cây thế trăm tuổi, vài trăm tuổi... "Còn Người Thần tiên, hoa cỏ cũng thần tiên" Ông Phạm Văn Khoa luôn luôn thốt lên...

Cứ loanh quanh mãi trong thế giới của hương sắc - của kính yêu, của tôn kính, của bao nỗi tri ân - lúc sau, ba đó ông bạn mới quay đi, thì gặp ông Nguyễn Văn Tưởng chỉ huy lực lượng xây dựng quảng trường. Ông Tưởng rất mừng, vui vẻ cho biết tối nay Ban xây sựng Lăng được phép cấp trên sẽ bắt đầu cho thử toàn bộ đèn chiếu sáng ở Lăng và cả quảng trường. Ông mời ba vị nghệ sĩ - cũng là ba người đã có đóng góp vào quảng trưởng từ những ngày đầu Cách mạng thành công - tối nay cùng tới dự và góp thêm ý kiến. Tất nhiên không cần phải trao đổi ý kiến, cả ba ông bạn vui vẻ nhận lời.

Buổi tối hôm đó, đúng hẹn, khoảng 8 giờ 30, tất cả các loại đèn chiếu ở Lăng và trên quảng trường cùng mở. Cả trời, đất đều như bật sáng loà. Giữa vùng ánh sáng ấy, toà Lăng như toàn bằng ngọc khối sáng ngời, lấp lánh, hiện lên từ một truyện thần tiên. Huyền diệu quá! Dân đi ngang qua ai ai cũng phải dừng lại, bu tới quanh hàng rào chưa dỡ bỏ, mỗi lúc một đông nghẹt, Đúng là trước mắt họ là cả một thế giới như siêu thực, lung linh kỳ diệu, mà nổi nhất, đẹp nhất vẫn là toàn Lăng với khối chính giữa vuông vắn, mái cao thoáng lướt cong tựa đền đài mà cũng như một lâu đài cùng với hai khán lễ xoè ra ở hai bên càng làm tăng thêm vẻ bề thế uy nghi... "Ô, Bác đã về hay sao ấy?" - "Bác đã về, đúng là Bác đã về rồi đấy!"! Không ai bảo ai, dân chúng cùng xôn xao xúc động. Trước mắt họ "Toà lâu đài" vẫn lung linh trong vùng ánh áng ngời ngời như trong mơ.

Đứng dưới chân toà Lăng gần như đầy đủ các đồng chí trong Ban xây dựng, Ban chỉ huy công trường 75808 và đông đảo cán bộ và quan chức của thành phố. Có cả hầu hết các chuyên gia Liên Xô. Trong khung cảnh huy hoàng này, bỗng một người nào đó trong đám đông quan chức thốt lên: "Chưa khánh thành, nhưng đêm nay cũng như khánh thành sơ bộ vậy - buổi khánh thành ánh sáng tuyệt vời!" Mọi người cùng quay lại, cười như tán thành ý nghĩa vui vẻ, vừa lúc đó cả đồng chí Lê Duẩn, đồng chí Trường Chinh và đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng tới hoà mình vào đám đông công nhân, cán bộ, quan chức ấy. Các đồng chí ngửa mặt lên ngắm nhìm mãi toà Lăng, cùng quảng trường mới. Quảng trường như càng sáng loà ánh điện. Tất cả anh chị em công nhân đều được ra đứng kín hết các ô cả xanh. Dưới ánh đèn, cỏ xanh dường như càng thêm xanh mướt, xanh đến lạ lùng, xanh như mời gọi. Một đồng chí trong Bộ CT bỗng quay sang phía đồng chí Đỗ Mười đứng bên cạnh hỏi: "Sao không cho thủ loa luôn? Tiếng hát cất lên lúc này cũng tốt đấy chứ!". Thế là chỉ sau khoảng gần mười phút, trên khắp các dàn hoa lớn mới tinh khôi ở chung quanh quảng trường cùng vang lên một bài ca quá đỗi quen thuộc của dân ta: "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng...". Khi tất cả bằng ấy con người trước Lăng và quanh quảng trường, rung chuyển cả thành phố. Hát và hát say sưa, đến chảy cả nước mắt. Tất cả như cảm thấy không phải chỉ tâm hồn mình bay bay lên theo lời ca, không phải chỉ ở nơi đây mà còn như bay mãi tới tận nơi xa, nơi kính yêu...

"Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh - Đài hoa vĩnh cửu”, Nhà xuất bản Quân đội



Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn