LẮNG NGHE LỊCH SỬ TỪ MỘT NGƯỜI ĐÃ NGÃ XUỐNG
Đến năm 1930, người nữ thanh niên ấy chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng. Khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh mẽ, bà được tổ chức phân công vào hoạt động tại khu vực Vinh – Bến Thủy, nơi phong trào công nhân và nông dân đang phát triển sôi nổi. Tại đây, bà trực tiếp tuyên truyền đường lối của Đảng, kết nối phong trào đấu tranh của công nhân với nông dân các địa phương, góp phần làm nên sức mạnh liên mi
Người nữ chiến sĩ trong cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh
Tôi sinh ra và lớn lên ở huyện Ân Thi (nay là xã Xuân Trúc), tỉnh Hưng Yên – một miền quê thanh bình, nơi những lớp trầm tích lịch sử dường như lặng lẽ nằm sâu dưới nhịp sống thường ngày. Chỉ khi bắt đầu tìm hiểu Đề án “Câu chuyện thời hoa lửa”, tôi mới thực sự nhận ra rằng sự yên ả của hôm nay được đánh đổi bằng biết bao máu xương và tuổi trẻ của các thế hệ đi trước. Trong hành trình tìm về ký ức ấy, câu chuyện về nữ chiến sĩ cộng sản Nguyễn Thị Nghĩa hiện lên như một lát cắt dữ dội của lịch sử, khiến tôi không khỏi lặng người và suy ngẫm.
Nguyễn Thị Nghĩa, tên khai sinh là Nguyễn Thị Hẹn, chào đời năm 1909 trong một gia đình nông dân nghèo ở huyện Ân Thi. Tuổi thơ của bà trôi qua trong bối cảnh đất nước chìm trong ách đô hộ, nơi cái đói, cái nghèo và sự bất công trở thành nỗi ám ảnh thường trực của người dân lao động. Tuổi thơ của bà gắn liền với cảnh nước mất, dân bị áp bức, đời sống lầm than dưới ách thống trị của thực dân, phong kiến. Chính từ những chứng kiến ấy, trong bà sớm hình thành ý thức phản kháng và khát vọng đấu tranh cho độc lập dân tộc. Năm 20 tuổi, bà gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, bắt đầu con đường hoạt động cách mạng đầy gian nan.
Hưởng ứng phong trào “vô sản hóa”, bà chủ động rời bỏ cuộc sống quen thuộc để bước vào môi trường lao động nặng nhọc, làm việc tại Nhà máy bát Hải Phòng rồi Nhà máy gạch Năm Giệm (Hà Nội). Sống giữa công nhân, cùng lao động, cùng chia sẻ nỗi nhọc nhằn của người lao động, bà từng bước tuyên truyền tư tưởng cách mạng, khơi dậy tinh thần đấu tranh trong anh chị em công nhân. Không chỉ dừng lại ở việc giác ngộ, bà còn trực tiếp vận động công nhân đứng lên đòi tăng lương, giảm giờ làm, chống đánh đập, cúp phạt và sa thải vô cớ. Những hoạt động ấy đã góp phần nâng cao ý thức giai cấp và lòng yêu nước trong đội ngũ công nhân, đồng thời khiến bà sớm trở thành mục tiêu theo dõi của bọn mật thám.
Đến năm 1930, người nữ thanh niên ấy chính thức được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời hoạt động cách mạng. Khi phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bùng lên mạnh mẽ, bà được tổ chức phân công vào hoạt động tại khu vực Vinh – Bến Thủy, nơi phong trào công nhân và nông dân đang phát triển sôi nổi. Tại đây, bà trực tiếp tuyên truyền đường lối của Đảng, kết nối phong trào đấu tranh của công nhân với nông dân các địa phương, góp phần làm nên sức mạnh liên minh công – nông trong cao trào cách mạng. Trước yêu cầu cấp bách của phong trào, bà tiếp tục được tin tưởng giao nhiệm vụ giao thông liên lạc đặc biệt giữa Trung ương và Xứ ủy Trung Kỳ, một công việc vô cùng nguy hiểm, đòi hỏi sự mưu trí, dũng cảm và tinh thần sẵn sàng hi sinh.
Bị bắt, tra tấn và khí tiết bất khuất

Sa bàn mô phỏng kiến trúc và các hạng mục của Nhà lao Vinh được trưng bày tại Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh. Ảnh: Thanh Quỳnh
Trong một lần thực hiện nhiệm vụ liên lạc trên tuyến Vinh – Hà Nội, bà không may sa vào tay địch. Chúng đưa bà đi khắp các nhà máy ở Vinh – Bến Thủy với hi vọng lần ra cơ sở cách mạng, nhưng trước sự im lặng kiên quyết của bà, mọi âm mưu đều thất bại. Cuối cùng, bà bị giải về Ty Mật thám Vinh, nơi bọn thực dân bắt đầu chuỗi tra tấn dã man nhằm khuất phục ý chí của người nữ cộng sản.
Nhiều nhân chứng và hồi ký của các chiến sĩ cách mạng cùng thời đã ghi lại rằng, tại đây bà phải đối mặt với những cực hình man rợ: bị đánh đập bằng dùi cui, bị đổ nước xà phòng vào miệng, bị dùng dây điện và thanh sắt đánh vào những chỗ hiểm, thậm chí bị kìm nung đỏ kẹp vào da thịt, nhổ răng và tiêm thuốc độc. Thân thể nhiều lần kiệt quệ, nhưng Nguyễn Thị Nghĩa vẫn giữ vững khí tiết, quyết không khai báo, không tiết lộ bất kỳ bí mật nào của tổ chức, bảo vệ Đảng và đồng chí đến cùng.
Ngay trong chốn lao tù khắc nghiệt, tinh thần đấu tranh của bà vẫn không hề tắt. Ban ngày, bà giả câm để che mắt địch; ban đêm, bà trao đổi với các bạn tù, tổ chức cho chị em học chữ, học chính trị, lập quỹ cứu tế và tuyên truyền giác ngộ binh lính. Nhờ đó, một số binh lính đã cảm hóa, trở thành chỗ dựa và nguồn tiếp tế tinh thần cho các nữ tù chính trị. Trong bóng tối của nhà lao, ngọn lửa Xô viết Nghệ Tĩnh vẫn được âm thầm gìn giữ và lan tỏa.
Sự hy sinh và giá trị để lại
Những đòn tra tấn liên tiếp cùng thuốc độc đã khiến thể trạng của bà suy kiệt nhanh chóng. Ngày 17/5/1931, bà anh dũng hy sinh tại nhà lao Vinh, khi mới 22 tuổi. Trước lúc ra đi, bà để lại bài thơ “Hồn ta hãy còn”, thể hiện rõ khí phách kiên cường và niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng:
“Chúng ta liễu yếu thơ nhi,
Tinh thần cũng chẳng kém gì trượng phu.
Trên đầu đế quốc quân thù,
Còn ta, ta quyết đền bù giang sơn.
… Còn trời còn nước còn non,
Hãy còn quân giặc ta còn hy sinh.”
Cuộc đời cách mạng của Nguyễn Thị Nghĩa tuy chỉ kéo dài trong hơn hai thập niên ngắn ngủi, nhưng lại mang giá trị tinh thần to lớn đối với phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngày nay, hình ảnh và hiện vật của bà được trưng bày trang trọng tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia và Bảo tàng Xô viết Nghệ Tĩnh; tên bà được đặt cho nhiều tuyến đường tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Lạt như một sự ghi nhận xứng đáng của lịch sử đối với người nữ chiến sĩ cộng sản kiên trung.
Lắng nghe lịch sử từ một người đã ngã xuống, tôi càng thấm thía rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu, nước mắt và tuổi xuân của biết bao thế hệ đi trước. Với tôi – một người trẻ sinh ra và lớn lên trên quê hương Ân Thi, Hưng Yên – câu chuyện về Nguyễn Thị Nghĩa không chỉ dừng lại ở những trang sử đã khép lại, mà còn là lời nhắc nhở âm thầm nhưng sâu sắc: hãy sống xứng đáng với sự hi sinh ấy, biết trân trọng hiện tại và tiếp nối ngọn lửa yêu nước, tinh thần trách nhiệm mà cha ông đã truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau.



