Lập công xuất sắc trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước, Đại đội 225 đổi phiên hiệu là Đại đội 11, Tiểu đoàn 322 đổi tên thành Tiểu đoàn 6 chiến đấu trong đội hình Trung đoàn 88, Sư đoàn 308. Đại đội đã cùng tiểu đoàn, trung đoàn tham gia liên tục 3 chiến dịch lớn: Khe Sanh 1968; Đường 9 - Nam Lào năm 1971 và Quảng trị năm 1972. Chiến dịch nào đại đội cũng chiến đấu dũng cảm linh hoạt, khắc phục mọi khó khăn gian khổ, ác liệt, tích cực tiến công tiêu diệt địch có nhiều trận đạt hiệu xuất chiến đấu cao.
Chiến dịch Khe sanh năm 1968, Đại đội 11 (lúc này lấy phiên hiệu là Đại đội 13) tăng cường cho Tiểu đoàn 4 tiến công điểm cao 690 (Phú Nhoi) lần thứ 2, ngày 18/6/1968. Đại đội 13 đảm nhiệm mũi chủ yếu đánh lên mỏm số 1, sau khi chiếm được trận địa đầu cầu, Đại đội 13 bị ổ đại liên địch bắn ngăn chặn không phát triển được, xạ thủ trung liên Nguyễn Văn Nha ném một quả lựu đạn rồi lợi dụng khói lựu đạn nổ che khuất đứng thẳng người trên sườn đồi dùng trung liên bắn thẳng vào ổ đại liên địch. Hoả lực địch bất ngờ bị khống chế, chớp thời cơ cán bộ, chiến sĩ Đại đội 13 bật dậy xung phong nhanh chóng tiêu diệt địch. Nguyễn Văn Nha bị địch bắn gẫy xương quai hàm nhưng vẫn cắn răng chịu đau bắn yểm trợ đồng đội tiến lên đánh chiếm được mỏm 1 trên dãy điểm cao 690.
Trước nguy cơ bị tiêu diệt gọn, địch dùng phi pháo cùng với hàng chục trực thăng vũ trang đánh phá dữ dội hòng ngăn cản quân ta tiến công. Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 13 không quản hy sinh, dũng cảm chiến đấu, tiêu biểu như xạ thủ trung liên Nguyễn Văn Nha dùng súng trung liên đứng giữa chiến hào nhắm vào chiếc trực thăng gần nhất nhả đạn, loạt đạn chính xác làm chiếc trực thăng bốc cháy như một bó đuốc giữa bầu trời Phú Nhoi khiến những chiếc máy bay khác không dám lao vào gần để bắn phá. Gương chiến đấu Nguyễn Văn Nha bắn rơi máy bay địch bằng súng bộ binh phối hợp với hoả lực của các phân đội phòng không khác của ta bố trí ở các điểm cao quanh Phú Nhoi đã hạn chế rất nhiều mức độ bắn phá của máy bay địch, tạo điều kiện cho các mũi bộ binh tổ chức tiến công tiêu diệt hầu hết lực lượng của Tiểu đoàn 3 lính thuỷ đánh bộ Mỹ trên điểm cao 690 (Phú Nhoi)[4]. Kết thúc chiến dịch chiến sĩ Nguyễn Văn Nha được cấp Danh hiệu “dũng sĩ diệt Mỹ cấp ưu tú”
Chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Tiểu đoàn 6, chia làm 2 mũi đánh chiếm mỏm 2 cứ điểm 500, Đại đội 11 đảm nhiệm mũi tiễn công chủ yếu của tiểu đoàn. 22 giờ ngày 18/2/1971, bộ đội ta đã vào vị trí xuất phát xung phong bí mật, Đại đội 11 chỉ còn cách hàng rào thép gai địch khoảng 30m. Theo kế hoạch hiệp đồng, 23 giờ ngày 18/2, Đại đội 11 làm nhiệm vụ mở cửa làm hiệu lệnh đánh 1 quả mìn định hướng. Quả mìn nổ, đã quét đi một mảng lớn hàng rào và 2 tên địch ở công sự tiền tiêu, tạo điều kiện cho bộ phận đánh chiếm đầu cầu tiến lên.
Di ảnh của Anh hùng Phạm Văn Đỡ, Trung đội phó Đại đội 11, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 lập công xuất sắc trong trận đánh mỏm 2 cứ điểm 500, ngày 18/2/1971 (chiến dịch Đường 9 - Nam Lào năm 1971).
Sau tiếng nổ lớn, Đại đội trưởng Kính dẫn đầu Đại đội 11 vượt qua cửa mở đánh thẳng vào trung tâm mỏm 2 chiếm được 1 công sự chiến đấu của địch thì bị 1 khẩu đại liên địch bắn cản đường. Chiến sĩ Dương Hải Đăng đề nghị Đại đội trưởng Kính bắn yểm trợ cho anh bò lên dùng lựu đạn tiêu diệt khẩu đại liên địch, hoả điểm bị dập tắt Đại đội Kính bật dậy hô xung phong, chiến sĩ Phạm Văn Đỡ theo sau Đại đội trưởng tả xung hữu đột, dùng tiểu liên AK diệt đến tên địch thứ 17 thì bị thương vào chân, Đại đội trưởng Kinh hy sinh. Trước tình thế đó, Nguyễn Hữu Sự, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6 nhanh chóng tổ chức gấp một mũi xung kích gồm một số chiến sĩ Đại đội 10, một số chiến sĩ cơ quan tiểu đoàn bộ do chính anh chỉ huy bất ngờ đánh theo một hướng khác lên mỏm 2. Được tăng cường lực lượng 3 mũi tiến công của Tiểu đoàn 6 đã nhanh chóng cùng tiến công, sau 20 phút chiến đấu Tiểu đoàn 6 đã làm chủ hoàn toàn mỏm 2 cứ điểm 500 diệt 1 đại đội địch[5], tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn đánh chiếm các mỏm còn lại diệt gọn Tiểu đoàn 39 biệt động quân mở tung cánh cửa phía bắc của chiến dịch.
Chiến dịch Quảng Trị năm 1972, trong trận tiến công giải phóng Đông Hà của Sư đoàn 308 ngày 27 và 28/4/1972, Đại đội 11 đã nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh tổ chức truy kích địch chạy từ Đông Hà về Lai Phước, diệt 100 tên địch. Trận đánh điểm cao 35 Cầu Nhì (nam Mỹ Chánh) ngày 26/5/1972, Đại đội 11 đã nêu cao ý chí chiến đấu, kiên quyết tiến công, vừa hành quân tới là bước vào chiến đấu ngay tiêu diệt gọn 1 đại đội và đánh thiệt hại nặng sở chỉ huy tiểu đoàn địch chiếm giữ điểm cao 35.
Tham gia chiến đấu bảo vệ thành cổ Quảng Trị, từ ngày 27/7/1972 đến ngày 16/9/1973, Đại đội 11 chiến đấu trên hướng Tây Nam thị xã Quảng Trị, chốt giữ ở khu vực ngã tư đường 1 và ngã ba Long Hưng chịu đựng hàng trăm tấn bom đạn, đánh bại hàng trăm đợt tiến công của địch, diệt hơn 300 tên và 5 xe tăng của chúng.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đại đội 11, Tiểu đoàn 6 đã diệt và bắt 800 tên địch, bắn cháy 5 xe tăng, đại đội đã được tặng thưởng Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhất, đơn vị quyết thắng năm 1971 và năm 1972. Ngày 24/01/1973, Đại đội 11 được tặng thưởng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Ba và Danh hiệu “Đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”[6]. Ngày 23/9/1973, đồng chí Phạm Văn Đỡ, Trung đội phó Đại đội 11, Tiểu đoàn 66, Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 được tuyên dương Danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.


