Lấy thân mình chèn pháo
Tuổi thơ bần hàn và con đường tòng quân Tô Vĩnh Diện sinh ra và lớn lên trong một gia đình bần nông ở Thanh Hóa. Giống như nhiều thanh niên cùng thời, vì gia cảnh quá nghèo khó, từ năm 8 tuổi anh đã phải đi ở đợ cho địa chủ, chịu cảnh đòn roi và áp bức bóc lột. Năm 1946, khi phong trào cách mạng lan rộng, anh tham gia dân quân ở địa phương. Đến năm 1949, Tô Vĩnh Diện chính thức xung phong vào bộ đội chủ lực. Với tinh thần chiến đấu dũng cảm và kỷ luật cao, tháng 5 năm 1953, khi quân đội ta thàn
Nhiệm vụ kéo pháo vô tiền khoáng hậu Cuối năm 1953, đầu năm 1954, Trung đoàn 367 được lệnh hành quân lên Điện Biên Phủ. Ban đầu, Bộ Chỉ huy chiến dịch đề ra phương châm "đánh nhanh, giải quyết nhanh". Để đảm bảo yếu tố bất ngờ, bộ đội ta phải dùng sức người kéo những khẩu pháo cao xạ 37 ly nặng hơn 2 tấn qua những cung đường rừng núi Tây Bắc vô cùng hiểm trở, đèo cao dốc đứng.
Sau khi kéo pháo vào sát trận địa, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định tình hình thực tế và quyết định chuyển phương châm sang "đánh chắc, tiến chắc". Mệnh lệnh rút pháo ra điểm tập kết ban đầu được ban ra. Nếu kéo pháo vào đã vô cùng gian nan, thì kéo pháo ra lại càng nguy hiểm gấp bội phần, bởi bộ đội đã thấm mệt và đường dốc sương mù trơn trượt.
Đêm giá lạnh trên dốc Chuối và khoảnh khắc lịch sử Đêm ngày 1 tháng 2 năm 1954 (tức đêm 28 Tết âm lịch), đơn vị của Tô Vĩnh Diện trên đường kéo pháo ra đi qua dốc Chuối. Đây là một con dốc rất cao và hẹp, độ nghiêng lên tới 70 độ. Mưa lâm thâm, đường trơn như đổ mỡ. Tô Vĩnh Diện cùng pháo thủ Lê Văn Chi cầm càng lái phía trước, giữ hướng cho khẩu pháo từ từ đổ dốc.
Bất ngờ, một trong hai sợi dây tời bằng tơ chảo dùng để níu giữ khẩu pháo từ phía sau bị đứt. Lực kéo mất thăng bằng, khẩu pháo nặng hơn 2 tấn chao đảo rồi lao nhanh xuống dốc. Tình huống vô cùng nguy cấp, nếu pháo lao xuống vực không chỉ khí tài bị phá hủy mà nhiều đồng đội phía dưới cũng sẽ thương vong.
Giữa khoảnh khắc sinh tử đó, Tô Vĩnh Diện hô to: "Thà hy sinh, quyết bảo vệ pháo!". Anh dũng cảm buông tay lái, lao người về phía trước, dùng vai và lưng của mình chèn mạnh vào bánh xe pháo đang lăn bánh ầm ầm.
Sức mạnh của ý chí và tấm gương sáng ngời Khối thép nặng hàng tấn nghiến lên thân thể người tiểu đội trưởng nhưng đã bị khựng lại một nhịp. Chớp lấy tích tắc quý giá đó, các đồng đội đã kịp thời xông lên, ghì chặt dây tời và dùng chèn gỗ giữ vững khẩu pháo, không để nó lao xuống vực sâu.
Khẩu pháo được cứu an toàn, nhưng Tô Vĩnh Diện bị thương rất nặng. Khi đồng đội đưa anh ra khỏi bánh xe pháo, hơi thở của anh đã vô cùng yếu ớt. Trước khi nhắm mắt, câu hỏi cuối cùng của anh dồn hết chút sức lực còn lại là: "Pháo có việc gì không các đồng chí?". Tô Vĩnh Diện trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2 giờ 30 phút sáng ngày 2 tháng 2 năm 1954.
Sự hy sinh lẫm liệt của Tô Vĩnh Diện đã trở thành biểu tượng tinh thần vô giá của bộ đội pháo binh Việt Nam. Ngày 7 tháng 5 năm 1955, anh được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì và danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Khẩu pháo cao xạ 37 ly số hiệu 510681 mà anh đã lấy thân mình chèn giữ nay được công nhận là Bảo vật quốc gia, trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam.


