Lấy thân mình làm giá súng, bản hùng ca bất tử ở Mường Pồn
Trưởng thành từ một trẻ mồ côi đi ở mướn cho địa chủ, Bế Văn Đàn mang theo lòng căm thù giặc sâu sắc vào chiến trường. Trong trận đánh ác liệt tại Mường Pồn thuộc chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, trước tình thế khẩu trung liên của đồng đội không có chỗ đặt súng giữa lúc quân địch tấn công ồ ạt, anh đã không ngần ngại dùng chính hai vai của mình làm giá súng. Lời hô: "Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi" đã trở thành động lực tiếp thêm sức mạnh cho đồng đội quét sạc
Anh hùng Bế Văn Đàn sinh năm 1931 tại xã Quang Vinh, huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, là người con của dân tộc Tày. Tuổi thơ của anh là một chuỗi những ngày tháng cơ cực: mẹ mất sớm, cha làm thợ mỏ, bản thân anh phải đi ở cho địa chủ từ nhỏ. Sau 5 năm lam lũ, anh trốn về ở với dì và tham gia du kích trước khi chính thức nhập ngũ vào tháng 1/1949.
Trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, Bế Văn Đàn đảm nhiệm vai trò liên lạc tiểu đoàn. Khi đơn vị nhận nhiệm vụ bao vây quân Pháp tại Mường Pồn, cuộc chiến diễn ra vô cùng cam go. Quân địch tập trung hai đại đội cùng phi pháo yểm trợ liên tục phản kích. Bất chấp bom rơi đạn nổ, anh đã dũng cảm vượt qua lưới đạn dày đặc để truyền đạt mệnh lệnh kịp thời cho đơn vị.
Trận đánh ngày càng trở nên ác liệt, đại đội của anh bị thương vong nặng nề chỉ còn lại 17 người. Bản thân Bế Văn Đàn cũng đã bị thương nhưng anh vẫn kiên cường ở lại chiến đấu. Lúc này, một tình huống khẩn cấp xảy ra: quân địch phản kích lần thứ ba, trong khi khẩu trung liên của đồng chí Chu Văn Pù không có chỗ đặt súng để khai hỏa.
Không một giây do dự, Bế Văn Đàn lao đến, dùng đôi vai gầy của mình làm giá đỡ, hai tay ghì chặt chân súng và giục đồng đội nổ súng. Thấy đồng chí Pù còn do dự, anh kiên quyết: “Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi!”. Tiếng súng trung liên vang dội trên vai anh đã quật ngã hàng chục tên địch, bẻ gãy đợt phản kích cuối cùng của chúng.
Bế Văn Đàn đã anh dũng hy sinh khi hai tay vẫn còn ghì chặt súng trên vai. Anh ngã xuống ở tuổi 22, khi đang là tiểu đội phó. Ngày 31/8/1955, anh được Quốc hội truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Hiện nay, hài cốt của anh đã được quy tụ về Nghĩa trang Liệt sĩ A1 tại thành phố Điện Biên Phủ, trở thành một biểu tượng bất tử của tinh thần hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.


