Lấy thân mình làm lá chắn: Khúc ca bất tử của người trinh sát Nam Bộ
Có những người lính chọn dấn thân vào gian khổ của ch.i.ế.n tr.a.n.h khi tuổi đời mới đôi mươi, lặng lẽ xếp sinh mệnh cá nhân sau sự sống còn của đất nước. Liệt sĩ Ngô Chí Quốc (1929–1954) chính là một hình tượng kiên cường như thế. Xuất thân từ một gia đình nghèo làm nghề sông nước tại vùng đất Hiệp Bình, Thủ Đức (nay thuộc TP.HCM), chứng kiến quê hương chịu cảnh b.o.m đ.ạ.n, ông đã sớm tìm đường theo cách mạng. Tháng 3 năm 1946, ở tuổi 17, ông chính thức đứng vào hàng ngũ quân đội với quyết tâm giành lại tự do cho dân tộc. Kinh qua vô số thử thách trên địa bàn Đông Nam Bộ, ông nhanh chóng khẳng định bản lĩnh của một ch.i.ế.n sĩ trinh sát tài ba, luôn nhận về mình những phần việc hiểm hóc nhất. Năm 1947, trước cơn khát khí tài của quân kháng ch.i.ế.n, ông dũng cảm lặn sâu xuống lòng sông Sài Gòn mò tìm v.ũ kh.í tàn quân Nhật bỏ lại, tiếp tế kịp thời cho lực lượng ta. Đến năm 1949, trong trận tập kích đồn Lái Thiêu, ông trực tiếp dẫn dắt mũi nhọn gỡ rào, áp sát lô cốt địch và ném l.ự.u đ.ạ.n dập tắt hàng loạt hỏa điểm cản đường, mở ra hành lang quyết định cho đại quân tràn lên. Bản lĩnh cách mạng của ông còn thể hiện rõ nét qua màn vượt ngục ngoan cường vào năm 1952. Sa vào tay địch trong trận Cầu Đinh đợt một, ông bình thản chịu đựng vô số đòn t.r.a t.ấ.n tàn khốc mà nhất quyết không tiết lộ nửa lời. Không những giữ vững khí tiết, ông còn mưu trí tổ chức cuộc vượt ngục táo bạo, đưa nhiều đồng đội thoát khỏi sào huyệt giặc để trở về đơn vị tiếp tục cầm s.ú.n.g. Sự hy sinh của ông đã đi vào huyền thoại trong trận Cầu Đinh lần hai diễn ra ngày 1 tháng 6 năm 1954. Bị th.ư.ơ.n.g rất nặng giữa mưa đ.ạ.n, m.á.u thấm đỏ ch.i.ế.n trường, ông vẫn gồng mình đứng dậy, cất tiếng hô xung phong rồi lao về hướng đối diện để dồn toàn bộ hỏa lực địch về phía mình. Bằng việc lấy chính thân mình làm lá chắn hứng trọn làn đ.ạ.n giặc, ông đã c.h.ế.t để tạo ra khoảng trống sinh tử cho đồng đội đánh sập cứ điểm. Khép lại 9 năm trường kỳ kháng P
Có những người lính chọn dấn thân vào gian khổ của ch.i.ế.n tr.a.n.h khi tuổi đời mới đôi mươi, lặng lẽ xếp sinh mệnh cá nhân sau sự sống còn của đất nước. Liệt sĩ Ngô Chí Quốc (1929–1954) chính là một hình tượng kiên cường như thế. Xuất thân từ một gia đình nghèo làm nghề sông nước tại vùng đất Hiệp Bình, Thủ Đức (nay thuộc TP.HCM), chứng kiến quê hương chịu cảnh b.o.m đ.ạ.n, ông đã sớm tìm đường theo cách mạng. Tháng 3 năm 1946, ở tuổi 17, ông chính thức đứng vào hàng ngũ quân đội với quyết tâm giành lại tự do cho dân tộc.
Kinh qua vô số thử thách trên địa bàn Đông Nam Bộ, ông nhanh chóng khẳng định bản lĩnh của một ch.i.ế.n sĩ trinh sát tài ba, luôn nhận về mình những phần việc hiểm hóc nhất. Năm 1947, trước cơn khát khí tài của quân kháng ch.i.ế.n, ông dũng cảm lặn sâu xuống lòng sông Sài Gòn mò tìm v.ũ kh.í tàn quân Nhật bỏ lại, tiếp tế kịp thời cho lực lượng ta.
Đến năm 1949, trong trận tập kích đồn Lái Thiêu, ông trực tiếp dẫn dắt mũi nhọn gỡ rào, áp sát lô cốt địch và ném l.ự.u đ.ạ.n dập tắt hàng loạt hỏa điểm cản đường, mở ra hành lang quyết định cho đại quân tràn lên.
Bản lĩnh cách mạng của ông còn thể hiện rõ nét qua màn vượt ngục ngoan cường vào năm 1952. Sa vào tay địch trong trận Cầu Đinh đợt một, ông bình thản chịu đựng vô số đòn t.r.a t.ấ.n tàn khốc mà nhất quyết không tiết lộ nửa lời. Không những giữ vững khí tiết, ông còn mưu trí tổ chức cuộc vượt ngục táo bạo, đưa nhiều đồng đội thoát khỏi sào huyệt giặc để trở về đơn vị tiếp tục cầm s.ú.n.g.
Sự hy sinh của ông đã đi vào huyền thoại trong trận Cầu Đinh lần hai diễn ra ngày 1 tháng 6 năm 1954. Bị th.ư.ơ.n.g rất nặng giữa mưa đ.ạ.n, m.á.u thấm đỏ ch.i.ế.n trường, ông vẫn gồng mình đứng dậy, cất tiếng hô xung phong rồi lao về hướng đối diện để dồn toàn bộ hỏa lực địch về phía mình. Bằng việc lấy chính thân mình làm lá chắn hứng trọn làn đ.ạ.n giặc, ông đã c.h.ế.t để tạo ra khoảng trống sinh tử cho đồng đội đánh sập cứ điểm.
Khép lại 9 năm trường kỳ kháng Pháp với hơn 100 trận đ.á.n.h lớn nhỏ, t.i.ê.u di.ệ.t nhiều sinh lực địch và thu về vô số v.ũ kh.í, ngày 7 tháng 5 năm 1956, ông được Đảng và Nhà nước truy tặng Huân chương Quân công hạng Nhì cùng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Tên tuổi của người anh hùng ngày nay được khắc ghi trên nhiều tuyến đường và trường học tại TP.HCM—sự nhắc nhở trầm hùng về một thời tuổi trẻ đã hóa thành đất mẹ.



