Lê Anh Xuân – Ngọn lửa thơ giữa lòng chiến trường Nam Bộ
Ngô Ánh Tuyết
Năm 1940, trên mảnh đất Bến Tre giàu truyền thống cách mạng, cậu bé Ca Lê Hiến (sau này lấy bút danh là Lê Anh Xuân) cất tiếng khóc chào đời trong một gia đình trí thức giàu lòng yêu nước. Lớn lên trong thời kỳ đất nước chia cắt, ông theo gia đình tập kết ra Bắc. Mối duyên với học thuật mở ra khi ông tốt nghiệp xuất sắc khoa Lịch sử tại Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy.
Thế nhưng, giữa những ngày tháng êm đềm nơi giảng đường, trái tim người trí thức trẻ chưa bao giờ nguôi ngoai nỗi nhớ về miền Nam ruột thịt. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, Lê Anh Xuân xếp lại trang giáo án cùng con đường nghiên cứu rộng mở để xẻ dọc Trường Sơn, dấn thân vào nơi tuyến đầu máu lửa.
Trở về với quê hương Nam Bộ, chất kiên trung của dải đất Đồng khởi hòa quyện cùng hơi thở khốc liệt của chiến trường đã thổi bùng lên ngọn lửa sáng tạo trong tâm hồn ông. Bằng ngòi bút tài hoa, ông khắc họa nên những vần thơ đằm thắm tình quê nhưng cũng tràn đầy khí thế tiến công qua các tập thơ Hoa dừa, Tiếng gà gáy hay trường ca Nguyễn Văn Trỗi.
Đặc biệt, vào tháng 3 năm 1968, giữa khí thế quật cường của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân, xúc động trước hình ảnh quả cảm của người chiến sĩ ngã xuống trên đường run-way sân bay Tân Sơn Nhất, Lê Anh Xuân đã viết nên kiệt tác Dáng đứng Việt Nam. Bài thơ như một bức tượng đài sừng sững bằng ngôn từ, biến sự hy sinh thầm lặng của anh hùng vô danh thành biểu tượng bất tử cho sức mạnh và tầm vóc của cả dân tộc.
Chỉ hai tháng sau khi tác phẩm đời mình ra đời, vào đêm 24 tháng 5 năm 1968, trong một trận càn khốc liệt của địch tại vùng ven Cần Giuộc (Long An), nhà thơ - chiến sĩ Lê Anh Xuân đã trút hơi thở cuối cùng, khép lại hành trình 28 năm thanh xuân rực rỡ. Ông ngã xuống khi tài năng đang ở độ chín nhất, nhưng di sản và lý tưởng sống của ông vẫn vẹn nguyên giá trị, là tấm gương sáng ngời cho thế hệ hôm nay về tinh thần xả thân vì độc lập, tự do của đất nước.


