LÊ ANH XUÂN: NGƯỜI VIẾT DÁNG ĐỨNG VÀ KHÔNG KỊP ĐỌC BÀI IN
Bài thơ Dáng đứng Việt Nam trở thành một hình ảnh khó quên về người chiến sĩ giải phóng quân. Nhưng tác giả của nó, nhà thơ Lê Anh Xuân, chưa kịp thấy bài thơ được in khi đã lên đường tới mặt trận Sài Gòn trong đợt hai Mậu Thân năm 1968. Qua lời kể của đồng nghiệp, hiện vật trưng bày và tư liệu văn học, bài ký sự lần theo một buổi nghe chuyện chiến trường, một đêm sáng tác và hành trình cuối cùng của người thi sĩ mới hai mươi tám tuổi.


Trong gian trưng bày về Lê Anh Xuân tại Bảo tàng Văn học Việt Nam, bản thảo và hình ảnh liên quan đến nhà thơ nhắc người xem về một điều ít được nói tới: có những tác phẩm được biết đến rộng rãi khi người viết không còn cơ hội đọc chúng trên trang báo. Dáng đứng Việt Nam là một trường hợp như vậy. Bài thơ ra đời từ câu chuyện của một chiến sĩ ở sân bay Tân Sơn Nhất, rồi được chuyền đi qua nhiều thế hệ. Người làm nên những câu thơ ấy đã hy sinh ở mặt trận Sài Gòn trong tháng 5 năm 1968.
Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh năm 1940, lớn lên trong môi trường gia đình trí thức yêu nước. Cha ông là nhà nghiên cứu, nhà giáo Ca Văn Thỉnh. Sau năm 1954, ông học tập ở miền Bắc, theo ngành Lịch sử tại Đại học Tổng hợp Hà Nội rồi được giữ lại công tác giảng dạy. Một tương lai nghiên cứu và học thuật đã mở ra. Nhưng cuối năm 1964, ông lựa chọn trở về miền Nam, tham gia công tác văn nghệ ở vùng chiến sự. Quyết định này chuyển hướng cuộc đời một trí thức trẻ sang những con đường nhiều bất trắc.
Tại chiến trường, Lê Anh Xuân làm công tác giáo dục và văn nghệ, sống cùng cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Ông viết về miền Nam từ những điều trực tiếp chứng kiến, không phải chỉ từ nỗi nhớ của người đi xa. Cây bút có thể ghi vẻ đẹp của vườn dừa, của tiếng nói quê hương, đồng thời nhận ra chiến tranh đã thay đổi cuộc sống của người dân. Những tác phẩm văn xuôi và thơ của ông đặt con người cụ thể trong hoàn cảnh lịch sử, nơi tình yêu quê hương luôn đi cùng mất mát.
Đầu năm 1968, cuộc Tổng tiến công Mậu Thân mở ra những trận đánh lớn tại Sài Gòn và nhiều đô thị miền Nam. Một số chiến sĩ đã hy sinh trong các trận đánh quanh sân bay Tân Sơn Nhất. Theo lời hồi ức nhà văn Giang Nam được Hội Nhà văn Việt Nam đăng tải, trong một buổi nói chuyện với anh em văn nghệ, người kể đã thuật lại hình ảnh một chiến sĩ giải phóng quân hy sinh mà tư thế vẫn như đang đứng bắn bên một máy bay. Lê Anh Xuân xúc động trước câu chuyện ấy.
Hồi ức của đồng nghiệp cho biết ông thức đêm viết bài thơ ban đầu có tên Anh giải phóng quân, sau được đổi thành Dáng đứng Việt Nam. Việc đổi tên gắn với góp ý của nhà văn Anh Đức. Không nhất thiết phải trích nguyên văn từng câu thơ để hiểu sự lựa chọn của người viết. Ông đã tìm được hình ảnh có khả năng vượt khỏi một trận đánh: tư thế của người chiến sĩ trở thành biểu tượng cho lòng can đảm. Nhưng biểu tượng chỉ có sức nặng khi người đọc biết nó bắt nguồn từ câu chuyện chiến trường được kể lại.
Bài thơ được gửi tới tạp chí Văn nghệ Giải phóng. Trong khi tác phẩm chuẩn bị xuất hiện trước công chúng, Lê Anh Xuân tiếp tục lên đường tham gia đợt hai cuộc Tổng tiến công Mậu Thân. Lúc này, ông không còn đứng ở vai trò một người chỉ nghe kể về mặt trận. Ông đi cùng những người trực tiếp chiến đấu. Lựa chọn ấy khiến quãng thời gian giữa lúc viết xong bài thơ và khi nó được in trở nên ngắn ngủi đến đau lòng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Tháng 5 năm 1968, Lê Anh Xuân hy sinh tại khu vực mặt trận Sài Gòn. Có tài liệu ghi ngày 24, có tài liệu ghi ngày 25 tháng 5; không nên bỏ qua sai khác này. Những bài nghiên cứu của Hội Nhà văn Việt Nam cho biết ông chưa kịp nhìn thấy Dáng đứng Việt Nam được in. Sự việc cho thấy một nghịch lý của thời chiến: tác phẩm trở về với người đọc, trong khi người làm ra nó không còn đường trở về.
Những năm sau, Dáng đứng Việt Nam được đọc, chép lại, đưa vào các tuyển tập. Tác phẩm góp phần định hình hình ảnh người chiến sĩ trong văn học kháng chiến. Nhưng chỉ ca ngợi sự bất tử của câu thơ sẽ chưa đủ. Ở phía sau là một con người có tên khai sinh, có gia đình, có nghề dạy học từng mở rộng trước mắt và có những năm cuối đời sống giữa bom đạn. Sự hy sinh của Lê Anh Xuân không phải phần trang trí cho bài thơ; đó là số phận thật của tác giả.

Một tác phẩm của nhà thơ, liệt sỹ Lê Anh Xuân được trưng bày tại BTVHVN
Bảo tàng Văn học Việt Nam lưu giữ và giới thiệu những hiện vật, bút tích gắn với ông. Đây là chỗ người đọc có thể gặp lại nhà thơ dưới dạng gần gũi hơn tượng đài: một người viết đã cầm bút, sửa bản thảo, đưa tác phẩm đi trước khi lên đường. Những bút tích ấy giúp nhắc rằng văn học hình thành từ lao động bền bỉ, từ những trang giấy cần sự chăm chút, không chỉ từ cảm xúc bùng lên trong một khoảnh khắc.

Bản thảo viết tay của nhà thơ, liệt sỹ Lê Anh Xuân
Khi Dáng đứng Việt Nam được nhắc lại, người đọc thường hình dung người chiến sĩ mà bài thơ dựng lên. Còn bên một bản thảo ở bảo tàng, ta nhớ thêm một người khác: nhà thơ trẻ đã nhận lấy câu chuyện của đồng đội, viết bằng tất cả sự xúc động rồi bước tới chiến trường. Tác phẩm đã về tới người đọc. Tác giả thì không kịp nhìn thấy ngày ấy. Đó là sự lặng im sâu nhất phía sau một bài thơ đã sống rất lâu.


