LÊ ANH XUÂN - NGƯỜI XIN VỀ NAM VÀ BÀI THƠ KHÔNG KỊP ĐỌC TRÊN BÁO
Ông đã có chỗ đứng ở giảng đường Hà Nội, thậm chí được chuẩn bị đi nghiên cứu sinh ở nước ngoài, nhưng vẫn quyết định trở về miền Nam. Tháng 3/1968, ông viết “Dáng đứng Việt Nam” về một người chiến sĩ chưa rõ tên, rồi lên đường vào mặt trận Sài Gòn. Ngày 24.5.1968, Lê Anh Xuân hy sinh, khi mới 28 tuổi.

Bức điện đến muộn
Khi điện của Trần Bạch Đằng được gửi tới, Lê Anh Xuân đã lên đường. Nội dung điện chỉ có một ý: đừng để ông đi. Nhà thơ Giang Nam, người kể lại chuyện này, nhớ rằng mọi việc đã xong trước khi bức điện kịp có tác dụng.
Gia đình trí thức ở Bến Tre
Lê Anh Xuân tên thật là Ca Lê Hiến, sinh năm 1940 ở Bến Tre, trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha ông là nhà giáo, nhà nghiên cứu Ca Văn Thỉnh, người có nhiều đóng góp cho giáo dục và văn hóa Nam Bộ. Bài báo của Báo Quân đội Nhân dân cho rằng môi trường học hành, yêu nước và gắn bó với văn hóa dân tộc ấy đã góp phần nuôi dưỡng ở ông sự ham hiểu biết và ý thức trách nhiệm với quê hương.
Thuở nhỏ, ông sống cùng cha mẹ ở vùng kháng chiến miền Tây Nam Bộ. Năm 1952, ông làm việc ở nhà in thuộc Sở Giáo dục Nam Bộ. Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông theo gia đình tập kết ra Bắc.

Nhà thơ Lê Anh Xuân (bìa trái), bà Loan - vợ nhà văn Anh Đức và nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu tại Hà Nội năm 1964. Ảnh tư liệu
Giảng đường Hà Nội
Ở miền Bắc, ông học ở Hải Phòng, ở trường dành cho học sinh miền Nam, rồi tiếp tục học tại Trường Cấp III Nguyễn Trãi tại Hà Nội. Sau đó, ông vào Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tài thơ của ông sớm được ghi nhận: bài thơ về nỗi nhớ mưa quê hương đoạt giải nhì cuộc thi thơ của báo Văn Nghệ. Một nguồn ghi sự kiện này vào năm 1960, khi ông 20 tuổi. Nguồn kia ghi năm 1961. Hai nguồn cũng gọi tên bài hơi khác nhau.
Tốt nghiệp, ông được giữ lại làm cán bộ giảng dạy, chuẩn bị đi làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Nhưng người thanh niên ấy quyết định trở về miền Nam.
Tờ nguyện vọng trong hồ sơ đi B
Trong hồ sơ đi B, lưu ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, thuộc Phông Ủy ban Thống nhất Chính phủ, còn một tờ ghi nguyện vọng của Ca Lê Hiến. Ông viết rằng mình có thể đi bất cứ nơi nào được cử đến, nhưng điều ông muốn và quyết tâm là “được về miền Nam, về lại quê hương tôi”.
Tháng 12/1964, ông vượt Trường Sơn vào Nam. Ông công tác ở tiểu ban Giáo dục thuộc Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, rồi chuyển sang Hội Văn nghệ Giải phóng. Tháng 9/1965, niềm vui trở về kết thành bài thơ “Trở về quê nội”. Bút danh Lê Anh Xuân ra đời trong giai đoạn này. Theo ký ức của nhiều người bạn, chữ “Anh” lấy từ tên nhà văn Anh Đức, người góp ý cho ông, còn chữ “Xuân” lấy từ tên Xuân Lan, em gái nhà văn ấy.
Giữa chiến trường, thơ đổi giọng
Những năm ở miền Nam, ông viết nhiều. Tập thơ “Tiếng gà gáy” ra đời năm 1965. Đây là dấu mốc kết hợp chất trữ tình với cảm hứng cách mạng. Trường ca “Nguyễn Văn Trỗi” được ông bắt đầu viết từ ngày 18/5/1965 và hoàn thành ngày 28/12/1966. Đến ngày 31/12/1966, ông chép lại để giao đi đánh máy, vì sợ mất bản thảo. Cũng trong năm 1966, tác phẩm văn xuôi “Giữ đất” ra đời. Với trường ca này, thơ ông chuyển hẳn sang giọng anh hùng ca. Nhưng ông vẫn là nhà thơ của mưa quê hương và bóng dừa, nay sống giữa chiến trường.

Tác phẩm "Tiếng Gà Gáy" của nhà thơ Lê Anh Xuân. Ảnh: Báo QĐND
Một đêm thức trắng
Tháng 3/1968, giữa không khí chiến đấu của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân, Lê Anh Xuân viết “Dáng đứng Việt Nam”. Theo lời Giang Nam, bài thơ ra đời sau một buổi nói chuyện với anh em tòa soạn Văn nghệ Giải phóng về chuyến đi thực tế vào Sài Gòn trong đợt 1 của chiến dịch Mậu Thân. Trong buổi ấy có nhắc đến câu chuyện về một chiến sĩ Giải phóng quân chiến đấu đến phút cuối và hy sinh trên đường băng Tân Sơn Nhất, trong tư thế đang đứng bắn. Cũng theo Giang Nam, Lê Anh Xuân khóc, rồi thức suốt đêm viết bài thơ mang tên “Anh giải phóng quân”. Nhà văn Anh Đức sau này đổi tên bài thành “Dáng đứng Việt Nam”.
Trong thơ, người lính ngã xuống trên đường băng nhưng gượng đứng dậy, tì súng và bắn tiếp. Anh không để lại tấm ảnh hay địa chỉ nào, chỉ để lại một dáng đứng. Anh vô danh. Bài báo QĐND nhận xét rằng từ một người chiến sĩ chưa biết tên, nhà thơ tạo nên hình tượng vượt khỏi giới hạn của một trận đánh để trở thành biểu tượng của dân tộc.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Về thẳng mặt trận
Bài thơ được gửi cho Tạp chí Văn nghệ Giải phóng, và ông không kịp đọc nó trên báo. Ông đã xung phong vào Sài Gòn trong đợt 2 của chiến dịch Mậu Thân. Từ căn cứ, ông theo đường giao liên về thẳng mặt trận.
Giang Nam nhớ lại lời ông nói khi ấy: “Tụi em về Nam là để chiến đấu với đồng bào, với anh em.” Ông không muốn trở về chỉ để đứng xem và viết.
Ngày 24.5.1968, Lê Anh Xuân hy sinh. Bài báo QĐND ghi rằng ông ngã xuống trong một trận càn của địch ở vùng ven Sài Gòn. Ông 28 tuổi.
Dáng đứng còn lại
Sau khi ông mất, thơ ông tiếp tục ra mắt: tập “Hoa dừa” năm 1971 và tuyển tập thơ “Thơ Lê Anh Xuân” năm 1981. Năm 2001, ông được truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật. Năm 2011, ông được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Hai bài báo đều đọc “Dáng đứng Việt Nam” như một biểu tượng: tượng đài của thi ca yêu nước, và hình ảnh tinh thần của một dân tộc kiên cường. Câu thơ kết bài được tác giả bài Thanh Niên xem như lời tiên tri về ngày chiến thắng đang đến gần.
Ông từng xin được về miền Nam. Ông ở lại đó, ở tuổi hai mươi tám.


