Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

LÊ BÁ DƯƠNG – DŨNG SĨ DIỆT MỸ

LÊ BÁ DƯƠNG – DŨNG SĨ DIỆT MỸ

Thái Nguyên17/07/2026Ngô Lê Quỳnh - 6I (Liên đội THCS Tiên Phong - phường Vạn Xuân)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 10/4/1953, tại thị trấn Thái Hòa, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An, một cậu bé sinh ra trong gia đình trí thức nghèo – Lê Bá Dương. Như bao thanh niên xứ Nghệ mang trong mình khí phách kiên cường, dù chưa đủ tuổi tòng quân, cậu đã nhiều lần viết đơn bằng chính m.á.u mình, tha thiết xin được ra trận. Đúng ngày sinh nhật thứ 15, 10/4/1968, ước nguyện ấy trở thành hiện thực: Lê Bá Dương chính thức nhập ngũ.

Sau 2 tuần huấn luyện cấp tốc tại Đoàn 22, Quân khu 4, và gần một tháng hành quân bộ ròng rã vào chiến trường, cậu lính trẻ được biên chế vào Đại đội 3, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 27, Mặt trận B5, trực tiếp chiến đấu tại mặt trận đường 9 Quảng Trị – một trong những chiến trường khốc liệt nhất thời bấy giờ. Ngay trận đánh đầu tiên tại thôn Tây Trì, thị trấn Đông Hà, Lê Bá Dương đã lập công xuất sắc, trở thành Dũng sĩ diệt Mỹ cấp II khi vừa tròn 15 tuổi 49 ngày – một kỳ tích hiếm có ở tuổi thiếu niên.

Suốt từ năm 1968 cho đến ngày đất nước thống nhất, ông đã trực tiếp tham gia hàng chục chiến dịch, hàng trăm trận đánh then chốt, từ vai trò một người lính trơn cho đến cán bộ chỉ huy đại đội. Tên tuổi Lê Bá Dương xuất hiện nhiều lần trên các mặt báo lớn như Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Tiền Phong, Báo ảnh Việt Nam, hay tờ Tiền tuyến của chính Mặt trận B5, với những bài viết nổi tiếng như "Ba dũng sĩ thắng hàng trăm giặc Mỹ" hay "Tổ chiến đấu Lê Bá Dương".

Một trong những chiến công vang dội của ông diễn ra tại cao điểm 161, phía bắc đường số 9, huyện Cam Lộ. Chỉ với ba chiến sĩ – Lê Bá Dương, Ngân Quốc Phòng và Trần Minh Gương – tổ chiến đấu nhỏ bé ấy đã đánh bại hai đại đội tăng cường thuộc lực lượng Kỵ binh bay Mỹ, tiêu diệt hơn 100 tên địch cùng một máy bay trực thăng.

Năm 1970, khi giữ cương vị trung đội trưởng, ông chỉ huy một tổ 4 chiến sĩ giữ chốt trên cao điểm 322 nhằm chặn đường tiếp viện của địch lên cao điểm 544 (Pu Lơ). Suốt hai ngày liền đối mặt với hai đại đội tăng cường của trung đoàn 2 ngụy, bất chấp mưa b.o.m bão đ.ạ.n và tương quan lực lượng chênh lệch, ông cùng đồng đội đã đánh lui hàng chục đợt phản kích, tiêu diệt hơn 40 tên địch, thu nhiều v.ũ k.h.í và tài liệu quân sự quý giá.

Đến ngày 7/2/1971, ông tiếp tục làm nên một trận đánh được ghi vào sử sách của Trung đoàn 27 - Triệu Hải, mở đầu cho phong trào diệt xe cơ giới địch trên đường số 9. Vừa tiếp cận trận địa, đơn vị đã bị p.h.á.o địch b.ắ.n trúng. Sau khi mai táng đồng đội hy sinh và đưa thương binh về tuyến sau, Lê Bá Dương cùng 21 tay súng còn lại kiên quyết bám trụ đoạn đường phía đông cầu Sa Mưu, chặn đánh đoàn xe hơn 200 chiếc gồm xe tăng, xe chở dầu và chở lính Mỹ đang ngược lên chi viện cho mặt trận Nam Lào. Bằng mưu trí, đơn vị cắt đứt đuôi đoàn xe, áp sát đánh trực diện, tiêu diệt gọn 19 xe tăng và xe chở dầu cùng 90 lính Mỹ. Riêng ông đã một mình hạ một xe bọc thép và hơn 20 lính bộ binh Mỹ đi kèm.

Nhưng có lẽ trận đánh khắc sâu nhất trong cuộc đời binh nghiệp của ông diễn ra vào tháng 6/1971, trong chiến dịch A2 nhằm vây ép, tiêu diệt cao điểm 544 – căn cứ Pu Lơ, nơi đặt hệ thống radar được coi là "con mắt thần" quan trọng bậc nhất trong hàng rào điện tử Mắc Namara của Mỹ tại Quảng Trị. Đây là vị trí sống còn mà quân ta từng nhiều lần tấn công nhưng chưa thành công. Lần này, Trung đoàn 27 quyết định dùng chiến thuật vây ép từng bước, kết hợp vũ khí mới F2 (Rồng lửa) để tiêu diệt và làm chủ cao điểm.

Là một chỉ huy đánh chốt bản lĩnh, Lê Bá Dương cùng ba chiến sĩ Trần Hồng Quán, Vi Sinh Thoòng, Phùng Hòe được giao nhiệm vụ giữ mỏm đồi "thám báo" nằm sát hệ thống phòng thủ đỉnh 544, với quyết tâm bằng mọi giá phải giữ vững vị trí để đêm hôm sau đơn vị có bàn đạp tấn công. Suốt một ngày dầm mình dưới mưa b.o.m bão p.h.á.o, tổ 4 người đã đánh lui hàng chục đợt tấn công điên cuồng từ hai đại đội địch. Từng người lần lượt bị thương, vết thương chồng lên vết thương, đạn dược dành cho hai ngày chiến đấu cạn kiệt, hai chiến sĩ đã anh dũng hy sinh.

aĐoán biết thực lực quân ta đã suy yếu, hơn 400 tên địch bất ngờ chia nhiều hướng đồng loạt tấn công lên chốt, quyết chiếm bằng được vị trí tử huyệt này. Trong giây phút sinh tử ấy, Lê Bá Dương đã lấy chính m.á.u từ vết thương của mình viết lời thề quyết tử sau tấm ảnh Bác Hồ, rồi cùng người đồng đội cuối cùng còn lại hôn lên tấm ảnh thiêng liêng đó. Sau đó, ông cho kích nổ toàn bộ số mìn ĐH10 về phía địch, phát tín hiệu gọi pháo binh phía sau bắn hủy diệt chính trận địa của mình – chấp nhận hy sinh để đổi lấy thắng lợi chung của cả chiến dịch.

Chính quyết định cảm tử ấy đã giúp giữ vững trận địa đến đêm, tạo bàn đạp cho đơn vị tấn công và làm chủ hoàn toàn cao điểm 544. Tấm ảnh Bác Hồ cùng lời thề viết bằng máu của Lê Bá Dương trở thành nguồn động viên to lớn cho cả đơn vị trong đêm quyết chiến đó, và lan rộng khắp mặt trận Đường 9 thành phong trào thi đua nổi tiếng: "Chốt chặt như Lê Bá Dương, xung kích như Lê Bá Dương". Đến nay, câu chuyện và tấm ảnh ấy vẫn được lưu giữ trang trọng trong truyền thống vẻ vang của Trung đoàn 27 - Triệu Hải anh hùng, truyền qua nhiều thế hệ bộ đội Cụ Hồ.

Với những chiến công đặc biệt xuất sắc cùng nhân cách trung thực, thủy chung, sống hết mình vì đồng đội và sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do Tổ quốc, Lê Bá Dương đã được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý: một Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Nhì, hai Huân chương Chiến công Giải phóng hạng Ba, tám danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ, Dũng sĩ diệt máy bay, Dũng sĩ diệt cơ giới từ cấp 3 đến cấp ưu tú, danh hiệu Chiến sĩ Quyết thắng Mặt trận B5, cùng Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Hòa bình lập lại, người lính trẻ trở về đời thường mang trên mình 14 vết thương và mất một ngón tay nơi chiến trường, trải qua 22 lần lên bàn mổ. Nhưng ông không dừng lại: Lê Bá Dương tiếp tục cầm bút và cầm máy ảnh, trở thành phóng viên thường trú báo Văn Hóa tại khu vực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên (Nha Trang), đồng thời là hội viên Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam và hội viên Liên đoàn Nhiếp ảnh Quốc tế (FIAP) – tiếp nối một cuộc đời cống hiến, từ chiến trường khói lửa đến những khung hình lặng lẽ của thời bình.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn