Khác

LÊ BÁ ƯỚC (1931-2016)

Ông Lê Bá Ước, tức Bảy Ước sinh ngày 12/4/1931 tại xã Vĩnh Hoà Hưng, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.

Vĩnh Long23/01/2026ĐOÀN XÃ CHÂU THÀNH (ĐOÀN XÃ CHÂU THÀNH)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1945, khi mới 14 tuổi, ông đã theo Việt Minh. Suốt chín năm kháng chiến chống Pháp, cậu bé Bảy Ước với bản tính gan dạ đã trưởng thành thành một người lính Việt Minh dũng cảm. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, tiếp tục được bồi dưỡng, học tập để trở thành sĩ quan chỉ huy. Trong thời gian công tác tại Hà Nội, ông quen cô Kim Mến, quê Cần Thơ, là y tá cũng đi tập kết như ông. Hai người làm đám cưới vào cuối năm 1960 và một năm sau sinh cô con gái đầu lòng.

Khi cách mạng miền Nam chuyển sang đấu tranh vũ trang, hầu hết cán bộ, bộ đội tập kết đều nhận lệnh trở về Nam chiến đấu. Năm 1965, với quân hàm Đại úy, ông Bảy Ước lên đường vào chiến trường, để lại hậu phương người vợ trẻ và hai đứa con thơ, đứa lớn bốn tuổi, đứa nhỏ mới hai tuổi. Sau hơn sáu tháng hành quân vượt Trường Sơn, ông vào đến chiến trường B2 Nam Bộ. Ngày 15/4/1966, Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác được thành lập và ông được điều về tham gia chỉ huy chiến đấu tại địa bàn đặc biệt ác liệt này.

Rừng Sác được mệnh danh là vùng “rừng thiêng nước độc”, với bạt ngàn rừng ngập mặn, chằng chịt sông rạch, trong đó có sông Lòng Tàu – tuyến giao thông chiến lược để địch vận chuyển hàng hóa, vũ khí từ biển Đông vào Sài Gòn, đồng thời là vành đai bảo vệ cửa ngõ Đông Nam thành phố. Bộ Chỉ huy Miền xác định phải bám trụ nơi đây bằng mọi giá để đánh địch, cắt đứt nguồn tiếp tế của chúng. Nếu địa đạo Củ Chi là căn cứ ngầm, thì Rừng Sác – nơi Trung đoàn 10 đóng quân – là căn cứ nổi trên bùn lầy, nước mặn, vô cùng gian khổ và hiểm nguy. Việc tiếp tế hết sức khó khăn; có những thời điểm hàng tháng trời, chiến sĩ phải hái chà là, rau kìm, đọt ráng, mò cua bắt ốc để cầm hơi. Những trang viết trong cuốn Một thời Rừng Sác của ông Bảy Ước đã phản ánh phần nào cuộc sống khắc nghiệt nhưng đầy mưu trí, kiên cường của lực lượng đặc công nơi đây.

Không chỉ chiến đấu với kẻ thù, các chiến sĩ còn phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt, với cá sấu và bệnh tật rình rập. Sau ngày miền Nam giải phóng, khi tham gia chương trình nhân đạo MIA tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích, ông Bảy Ước từng nghẹn ngào kể rằng việc tìm hài cốt là vô vọng vì vùng Rừng Sác khi ấy dày đặc cá sấu; nhiều thi thể đã bị cuốn trôi hoặc trở thành mồi cho thú dữ. Ngay cả phía ta, hơn 800 chiến sĩ hy sinh trong 10 năm bám trụ, đến nay cũng chỉ quy tập được hơn 300 người.

Ở hậu phương miền Bắc, trong những năm Mỹ đánh phá ác liệt, cô Kim Mến gửi hai con đi sơ tán, còn mình theo học đào tạo y sĩ, thỉnh thoảng mới có thể lên thăm con. Nhớ con, lo chồng nơi chiến trường, người vợ trẻ có lúc đã gục ngã. Sau khi học xong, cô được cơ quan tạo điều kiện tiếp tục học bác sĩ tại Trường Đại học Y Thái Bình, nhưng cô từ chối, viết đơn xin vào Nam chiến đấu cùng chồng. Ban đầu tổ chức không đồng ý vì cô cần chăm sóc hai con nhỏ, nhưng trước quyết tâm cháy bỏng, năm 1968, cô Kim Mến khoác ba lô vượt Trường Sơn vào Nam, chia tay hai con (lúc ấy 7 và 5 tuổi) mà không hề biết đó là lần chia tay mãi mãi.

Sau gần sáu tháng hành quân, cô vào tới chiến trường B2, được phân công về Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, nơi ông Bảy Ước đang là Trung đoàn trưởng kiêm Chính ủy. Ngày hai vợ chồng gặp nhau giữa căn cứ Rừng Sác, nước mắt cô Mến không ngừng rơi: xa chồng thì nhớ, ở bên chồng lại đau đáu nhớ con. Cô tham gia chăm sóc thương binh trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, thuốc men không có, phải dùng lá rừng làm thuốc, lọc nước sông lấy muối để rửa vết thương. Trong những ngày tháng ác liệt ấy, cô mang thai và sinh con trai vào năm 1971. Đứa trẻ vừa tròn 15 ngày đã phải gửi vào một cơ sở nuôi dưỡng trong ấp chiến lược. Ông Bảy Ước đặt tên con là Lê Toàn Thắng, với ước vọng đất nước sớm hòa bình.

Không lâu sau, trong một trận càn ác liệt, địch phát hiện trạm xá của Trung đoàn. Bom đạn, rốc-két trút xuống dữ dội, cô Kim Mến cùng các đồng đội đã anh dũng hy sinh. Khi ấy, bé Toàn Thắng mới ba tháng tuổi. Tin vợ hy sinh khiến người chỉ huy dày dạn trận mạc như ông Bảy Ước cũng không cầm được nước mắt: ông mất người vợ yêu quý, người đồng chí kề vai sát cánh, và ba đứa con vĩnh viễn mồ côi mẹ.

Những mất mát tiếp nối mất mát. Năm 1972, cấp dưới thân cận của ông là Phan Như Tiếp – Trung đội phó đặc công dũng cảm – hy sinh trong một trận đánh trên sông Lòng Tàu, đúng lúc vợ anh sinh con trai. Ba đứa con của ông Bảy Ước mất mẹ, ba đứa con của gia đình anh Tiếp mất cha, nỗi đau chiến tranh chồng chất khiến ông nhiều đêm không ngủ, chỉ biết tự nhủ phải mạnh mẽ để tiếp tục chỉ huy chiến đấu.

Sau Hiệp định Paris, ông mới bình tâm viết thư ra Bắc báo tin cho người dì đang nuôi hai con lớn, kể rằng các con có thêm em trai nhưng mẹ các cháu đã hy sinh. Sau hơn hai năm, gia đình ngoài Bắc mới biết tin dữ. Trong những năm cuối chiến tranh, ông Bảy Ước và bà Vân – vợ liệt sĩ Phan Như Tiếp – đến với nhau, cùng gánh vác, chăm sóc sáu đứa trẻ mồ côi.

Ngày 30/4/1975, ông Bảy Ước là Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, tiến vào giải phóng Sài Gòn. Không lâu sau ngày toàn thắng, họ cùng nhau đi đón đủ sáu đứa trẻ về trong vòng tay của một gia đình mới – một gia đình được dựng lên từ những mất mát, hy sinh và tình người sâu nặng của chiến tranh.

Nguồn: Tạp chí điện tử văn hóa và phát triển

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn