LÊ BÁ ƯỚC – NGƯỜI GIỮ LỬA GIỮA RỪNG SÁC, MỘT ĐỜI VÌ ĐỒNG ĐỘI, VÌ TỔ QUỐC

LÊ BÁ ƯỚC – NGƯỜI GIỮ LỬA GIỮA RỪNG SÁC, MỘT ĐỜI VÌ ĐỒNG ĐỘI, VÌ TỔ QUỐC
Có một vùng đất mà chỉ nghe tên thôi cũng đủ gợi lên cảm giác khắc nghiệt: Rừng Sác. Đó là vùng rừng ngập mặn rộng lớn nằm sát Sài Gòn, nơi những dòng sông Soài Rạp, Lòng Tàu, Thị Vải đan xen giữa những cánh rừng đước, rừng bần và những bãi bùn mênh mông. Trong chiến tranh, đây vừa là căn cứ đặc biệt quan trọng của lực lượng cách mạng, vừa là nơi mà mỗi ngày tồn tại đều là một cuộc thử thách. Thiếu lương thực, thiếu nước ngọt, bom đạn của địch liên tục càn quét, những dòng nước mặn và cá sấu luôn rình rập, nhưng chính từ vùng đất tưởng như chỉ có thể khiến con người kiệt sức ấy, những chiến sĩ Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác đã làm nên những chiến công khiến đối phương phải khiếp sợ. Và ở giữa những năm tháng khốc liệt ấy có một người chỉ huy đã trở thành biểu tượng của Rừng Sác – Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Lê Bá Ước, người thường được đồng đội gọi bằng cái tên thân thương Bảy Ước.
Sinh năm 1931 tại Rạch Giá, Kiên Giang, Lê Bá Ước tham gia kháng chiến từ năm 1945. Sau Hiệp định Genève năm 1954, ông tập kết ra Bắc rồi trở lại chiến trường miền Nam vào năm 1965. Từ đây, cuộc đời ông gắn chặt với Rừng Sác và những người lính đặc công. Rừng Sác khi ấy không phải một nơi dễ sống. Những chiến sĩ bám trụ ở đây phải đối diện cùng lúc với bom đạn của kẻ thù và sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Có những thời điểm thiếu lương thực, thiếu nước uống, bộ đội phải nấu nước mặn để dùng, hái rau rừng, mò cua bắt ốc cầm hơi; có lúc phải nhổ sắn của người dân ven rừng để ăn rồi tìm cách gửi tiền trả lại. Đáng sợ hơn, hàng trăm chiến sĩ đã hy sinh tại chiến trường này, nhiều người không tìm lại được thi thể vì bị nước cuốn trôi hoặc cá sấu ăn mất.
Thế nhưng trong ký ức của Đại tá Lê Bá Ước, Rừng Sác không chỉ là nơi của mất mát. Đó còn là quê hương chiến đấu, là nơi ông cùng đồng đội sống với nhau bằng tình thương, kỷ luật và niềm tin. Ông từng ví sông Lòng Tàu như người mẹ ôm những đứa con của mình vào lòng. Chính từ vùng đất ngập mặn ấy, Đoàn 10 đã đánh vào những mục tiêu chiến lược của địch, từ tàu chiến, bến cảng đến kho tàng, kho bom, kho xăng; biến một vùng căn cứ tưởng như mong manh giữa sông nước thành một “căn cứ nổi” khiến quân địch luôn phải dè chừng.
Sau Xuân Mậu Thân năm 1968, Lê Bá Ước được cử làm Chính ủy Đoàn 10. Đến cuối năm 1969, khi Đoàn trưởng Nguyễn Hoàng Sơn bị bệnh, ông được giao làm Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Đoàn 10 Đặc công Rừng Sác. Từ đây, người chỉ huy Bảy Ước không chỉ trực tiếp chăm lo đời sống, tư tưởng cho bộ đội mà còn phải đưa ra những quyết định sinh tử trên một chiến trường mà chỉ một sơ suất cũng có thể khiến cả đơn vị chịu tổn thất nặng nề.
Một trong những điều làm nên bản lĩnh của Lê Bá Ước chính là khả năng dám quyết định trong những thời khắc không được phép chần chừ. Tháng 4 năm 1968, khi địch phát hiện sở chỉ huy của Đội 2 Đoàn 10 và đưa ba chiếc LCM cùng lực lượng Mỹ định đánh úp lúc nước lớn, tình thế trở nên hết sức nguy hiểm. Đơn vị lại không có nhiều súng đạn. Nếu nổ súng mà không trúng mục tiêu thì phải chôn súng, đồng nghĩa với việc mất đi phương tiện chiến đấu quý giá. Lê Bá Ước trực tiếp cùng chiến sĩ đi quan sát, chỉ thị cách đánh. Khi khẩu B41 áp sát và nhắm chính xác, phát đạn bắn trúng khiến tàu địch bốc cháy, gần một đại đội Mỹ bị chìm xuống sông trước khi chúng kịp hành động.
Nhưng có lẽ câu chuyện thể hiện rõ nhất phẩm chất của người chỉ huy Bảy Ước lại nằm ở một tình huống khác. Một khối lượng lớn đạn pháo ĐKB được vận chuyển vào chiến trường với mục tiêu hiệp đồng đánh vào những mục tiêu quan trọng. Sau nhiều ngày vật lộn với đường sông, nước rút và bùn lầy, pháo đến trận địa nhưng đã trễ giờ G. Một số ý kiến đề nghị ém quân, chờ đêm hôm sau mới đánh. Thế nhưng Lê Bá Ước quyết định đêm đó bằng mọi giá phải nổ súng, bởi Tân Sơn Nhất và Long Bình cần Đoàn 10 chia lửa. Sau đó, ông bố trí thời điểm nổ súng và phương án rút quân phù hợp. Quyết định ấy giúp giữ được hiệp đồng ban đầu, đồng thời giảm tổn thất về người và vũ khí. Ông từng nói một câu khiến người đọc khó quên: nếu dừng lại không đánh mà để địch phát hiện rồi tấn công thì tổn thất sẽ không thể kể hết, và khi ấy ông sẽ “có tội với Tổ quốc, với đồng đội”.
Đằng sau câu nói ấy là cả một quan niệm về trách nhiệm của người chỉ huy. Người lính bình thường phải đối diện với sự sống và cái chết của chính mình; còn người chỉ huy phải mang thêm sinh mạng của những người đang đặt niềm tin vào quyết định của mình. Một mệnh lệnh đúng có thể đưa cả đơn vị vượt qua hiểm nguy, nhưng một quyết định sai có thể khiến rất nhiều người không trở về. Bởi vậy, sự gan dạ của Lê Bá Ước không chỉ nằm ở việc ông dám bước vào nơi nguy hiểm, mà còn nằm ở sự tỉnh táo, quyết đoán và trách nhiệm với từng người lính dưới quyền.
Trong những năm tháng ở Rừng Sác, Đoàn 10 đã thực hiện hàng loạt trận đánh vào các mục tiêu quan trọng. Những chiến công ấy khiến đối phương luôn phải cảnh giác với vùng căn cứ tưởng như chỉ toàn rừng ngập mặn và sông nước. Từ Rừng Sác, các chiến sĩ đặc công đã đánh cháy, đánh chìm nhiều tàu địch trên sông Lòng Tàu, tấn công các kho tàng, bến cảng và những mục tiêu hậu cần chiến lược. Năm 1972, dưới sự chỉ huy của Lê Bá Ước, lực lượng Đoàn 10 tổ chức đánh kho bom Thành Tuy Hạ. Đêm 13 tháng 12, kho bom phát nổ dữ dội, lửa cháy kéo dài nhiều ngày, gây thiệt hại rất lớn cho kho tàng và bom đạn của địch.
Những chiến công ấy có thể được kể bằng những con số, những mục tiêu bị phá hủy hay những trận đánh được ghi vào lịch sử. Nhưng nếu chỉ nhìn vào chiến công mà quên đi con người phía sau thì sẽ không thể hiểu hết giá trị của nó. Bởi để một chiến sĩ đặc công có thể lặng lẽ luồn qua những dòng sông, áp sát một tàu chiến hay kho tàng của địch rồi trở về, phía sau họ là cả một hệ thống chỉ huy, trinh sát, hậu cần và đặc biệt là niềm tin. Lê Bá Ước đã dành những năm tháng đẹp nhất của đời mình để xây dựng và gìn giữ niềm tin ấy.
Rừng Sác cũng dạy người lính một bài học khắc nghiệt về sự sống. Có những ngày không đủ thức ăn, có những đêm nằm giữa bùn nước, có những chuyến đi mà người ra đi không biết mình có trở về hay không. Hơn 800 chiến sĩ đã hy sinh tại Rừng Sác theo hồi ức của ông, trong đó nhiều người không tìm được thi thể. Chính vì vậy, mỗi chiến công của Đoàn 10 đều thấm đẫm sự hy sinh. Người chỉ huy Bảy Ước hiểu điều ấy hơn ai hết. Có lẽ vì vậy mà khi nhớ về Rừng Sác, ông không chỉ nhớ những trận đánh mà còn nhớ những người đồng đội đã nằm lại, nhớ những người dân ven rừng đã cưu mang bộ đội trong những lúc gian khó nhất.
Năm 1974, trước yêu cầu chuẩn bị cho việc giải phóng Sài Gòn, Sư đoàn 2 Đặc công được thành lập và Lê Bá Ước được giao làm Chính ủy. Toàn sư đoàn được tổ chức thành nhiều mũi thọc sâu áp sát Sài Gòn – Gia Định, với phương châm xác định vùng ven là nhà, kho tàng, bến cảng, sân bay là trận địa và Sài Gòn – Gia Định là quyết chiến điểm. Cuối năm 1974, lực lượng đã phá hủy hơn 500 đồn, bốt, phân khu của địch và tiếp tục nhận nhiệm vụ phá những cây cầu chiến lược bao quanh Sài Gòn nhằm cắt đường tiến, thoái của đối phương.
Và rồi mùa xuân năm 1975 đến. Những người lính từng sống giữa rừng ngập mặn, từng đi qua những dòng nước mặn, từng chiến đấu trong bóng tối của Rừng Sác giờ đây tiến về Sài Gòn trong một chiến dịch lịch sử. Lê Bá Ước, với cương vị Chính ủy Sư đoàn 2 Đặc công, tham gia chiến dịch Hồ Chí Minh và lực lượng đặc công tiến vào Dinh Độc Lập trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến. Sau gần ba mươi năm cầm súng, từ một thanh niên tham gia kháng chiến năm 1945 đến người chỉ huy những đơn vị đặc công tinh nhuệ, ông đã chứng kiến thời khắc đất nước đi đến ngày toàn thắng.
Nhưng có lẽ khi đất nước hòa bình, điều còn ở lại sâu nhất trong lòng người lính già không phải là những danh hiệu hay những chiến công của riêng mình. Đó là những người đã không thể trở về. Đó là những gương mặt đồng đội đã nằm lại giữa rừng Sác, dưới lòng sông, bên những bến cảng và trong những trận đánh mà ông từng chỉ huy. Chính vì thế, nhiều năm sau chiến tranh, ông vẫn viết, vẫn kể, vẫn nhắc về Rừng Sác và đồng đội như một cách để lịch sử không bị lãng quên. Báo Quân đội nhân dân từng gọi ông là “Người Anh hùng Đặc công mê văn chương”, bởi ông viết để ôn lại lịch sử và tri ân đồng đội.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Có lẽ đó là vẻ đẹp đặc biệt của Lê Bá Ước. Người từng chỉ huy những trận đánh dữ dội lại dành những năm tháng sau chiến tranh để nhớ về đồng đội. Người từng sống giữa bom đạn lại luôn đau đáu với những người đã nằm xuống. Người từng đứng trước những quyết định sinh tử lại hiểu sâu sắc giá trị của một mạng sống. Và người đã đi qua chiến tranh không coi những chiến công là tài sản riêng của mình, mà xem đó là một phần của ký ức chung, trong đó có công sức, máu xương và sự hy sinh của biết bao người.
Ngày hôm nay, Rừng Sác đã không còn là vùng đất của những cuộc càn quét và những trận đánh. Những dòng sông vẫn chảy, những cánh rừng ngập mặn vẫn xanh, nhưng dưới lớp phù sa và những tán cây ấy là ký ức về một thời mà mỗi bước chân của người lính đều có thể dẫn đến sự sống hoặc cái chết. Và giữa ký ức ấy, hình ảnh Bảy Ước – người chỉ huy Đoàn 10 – vẫn hiện lên như một biểu tượng của bản lĩnh, trí tuệ, lòng gan dạ và tình đồng đội.
Thế hệ hôm nay có thể sẽ không bao giờ hiểu hết cảm giác của một người lính phải đưa ra quyết định khi biết rằng sinh mạng của hàng chục, hàng trăm đồng đội đang phụ thuộc vào mình. Chúng ta cũng không phải sống giữa một Rừng Sác thiếu nước, thiếu lương thực, luôn bị bom đạn bao vây. Nhưng chúng ta có thể hiểu một điều: hòa bình mà mình đang có được xây nên từ những con người đã từng chấp nhận sống trong gian khổ để bảo vệ một tương lai mà chính họ có thể không được nhìn thấy.
Vì thế, nhắc đến Đại tá Lê Bá Ước không chỉ là nhắc đến người Đoàn trưởng kiêm Chính ủy Trung đoàn 10 Đặc công Rừng Sác, không chỉ là nhắc đến những trận đánh trên sông Lòng Tàu, kho bom Thành Tuy Hạ hay những ngày tiến về Sài Gòn. Đó còn là nhắc đến một thế hệ người lính đã sống với một niềm tin giản dị mà lớn lao: còn đồng đội, còn Tổ quốc thì còn phải chiến đấu.
Và có lẽ, sau tất cả những năm tháng chiến tranh, điều đẹp nhất mà Đại tá Lê Bá Ước để lại không chỉ là những chiến công của Rừng Sác, mà còn là một bài học về cách một con người sống trọn vẹn với lời thề của người lính. Ông đã đi qua chiến tranh bằng lòng dũng cảm, đi qua gian khổ bằng ý chí, đi qua những mất mát bằng tình đồng đội và đi qua những năm tháng hòa bình bằng sự tri ân đối với những người đã nằm lại.
Một đời người rồi cũng đi qua, nhưng có những con người đã sống để một phần cuộc đời mình trở thành ký ức của Tổ quốc. Đại tá Lê Bá Ước là một người như thế – người đã giữ lửa giữa Rừng Sác năm nào, để từ vùng đất đầy bùn nước và bom đạn ấy, ngọn lửa của lòng yêu nước, tình đồng đội và khát vọng độc lập được truyền lại cho những thế hệ mai sau.


