Lê Cơ – Từ lý trưởng làng quê đến Đại tướng quân hộ giá
Ở đất Quảng Nam đầu thế kỷ XX, có một con người mà chỉ cần nhắc tên, quan phủ đã bầm gan, lính Tây phải dè chừng, còn dân nghèo thì kính phục gọi bằng hai chữ thân thương: Lý Cơ.
Lê Cơ sinh năm 1870, quê làng Phú Lâm, Tiên Phước, dòng dõi vua Lê Thánh Tông. Nhưng ông không sống bằng hào quang tổ tiên. Ông sống bằng khí phách ngang tàng và tinh thần công bằng xã hội. Khi tri phủ Thăng Bình ép ông ra làm lý trưởng – một chức ai cũng sợ vì va chạm với sưu thuế và cường hào – Lê Cơ nhận chức không phải để yên thân, mà để đập vỡ những bất công đã tồn tại hàng chục năm trong làng.
Từ khi Lý Cơ đứng đầu làng Phú Lâm, những hủ tục bị xóa bỏ, việc thu chi được minh bạch, dân nghèo được bảo vệ. Những cải cách ấy vô tình – mà cũng tất yếu – gặp đúng tinh thần của phong trào Minh Tân do Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế khởi xướng: chấn hưng kinh tế, mở mang dân trí, làm cho dân giàu thì nước mới mạnh. Điều đó đi ngược hoàn toàn với chính sách ngu dân, bóc lột của thực dân Pháp và tay sai Nam triều.
Không dừng lại ở làng xã, Lê Cơ lập Hội buôn một cách đường hoàng, xin bằng quan phủ rồi mới làm. Bề ngoài chỉ là mua giấy bút bán cho học trò, bán mắm muối cho dân cày, nhưng thực chất đó là mạng lưới kinh tế giúp người nghèo có hàng đi bán ăn hoa hồng. Hội buôn còn có lò rèn nông cụ, có vườn quế, và trở thành nơi hội họp công khai của những người yêu nước.
Quan phủ tức tối đòi lại bằng, Lê Cơ không trả. Vụ việc kéo lên tận tòa sứ. Quan phủ cay cú, còn quan sứ tuy có lúc xử cho Lê Cơ được kiện nhưng trong lòng vẫn đầy nghi kỵ. Biết vậy, Lê Cơ không lùi bước mà còn lập Hội bảo hiểm vườn quế, có trạm gác, có cắm cờ biển, khiến bọn chức dịch tay sai tức đến tím ruột.
Đỉnh cao của tinh thần phản kháng là khi các chánh tổng mở hát bội để moi tiền dân giữa mùa thu thuế. Lê Cơ treo công khai câu đối đỏ giữa đám đông:
Thuế chưa xong, xâu chưa hết, lợi chưa hưng, hại chưa trừ – vui gì vậy?
Nhà chẳng yên, trẻ chẳng học, trai chẳng cày, gái chẳng dệt – hát làm chi?
Câu đối như một nhát dao cắt vào bộ mặt giả nhân giả nghĩa của bọn cầm quyền.
Thực dân Pháp bắt đầu tưởng tượng ra một “cuộc nổi loạn Lê Cơ”. Chúng mở đường chiến lược, dựng đồn binh ngay giữa làng Phú Lâm, lô cốt chĩa thẳng súng máy vào nhà ông. Nhưng Lê Cơ không hề sợ. Lính Tây chặt tre của dân bị ông sai tuần đinh gông cổ; thiếu úy phải đến xin lỗi và đền tiền. Dê của đồn trưởng phá vườn, ông trả đủ… đến lần thứ ba thì chặt chân dê ném trả. Đồn trưởng câm nín.
Năm 1908, phong trào kháng thuế bùng nổ. Sau những cuộc đàn áp đẫm máu, Lê Cơ bị kết án ba năm tù. Ra tù, ông đi đến một nhận thức quyết liệt: không thể cải cách, không thể khai dân trí khi đất nước còn bị giặc ngoại bang đô hộ. Muốn cứu nước, phải cầm vũ khí.
Năm 1914, ông bí mật gia nhập Việt Nam Quang Phục hội. Trong cuộc khởi nghĩa năm 1916, Lê Cơ được giao chức Ngự tiền hộ giá Đại tướng quân, kiêm Tổng đốc Nam – Ngãi – Lưỡng Quảng, cùng Thái Phiên chuẩn bị nổ phát súng lệnh tại kinh thành Huế. Nhưng khởi nghĩa bị lộ trước hai giờ. Các chí sĩ lần lượt bị bắt, vua Duy Tân bị đày, nhiều người bị xử chém.
Lê Cơ bị đày đi Lao Bảo. Ngày 21 tháng 9 năm 1918, trong lúc đi lao dịch, ông chứng kiến cai ngục hành hạ dã man một tù nhân bệnh kiết lỵ. Không kìm được phẫn uất, Lê Cơ cầm dao vót nan lao vào đòi chặt đầu tên cai ngục. Một loạt đạn xả thẳng vào người ông. Ông ngã xuống giữa núi rừng Lao Bảo, chết như đã sống: không cúi đầu, không lùi bước.
Lê Cơ đi từ một lý trưởng làng quê đến một vị tướng hộ giá trong cuộc khởi nghĩa chống Pháp. Cuộc đời ông là minh chứng rằng: từ cải cách dân sinh đến cách mạng vũ trang chỉ cách nhau một lằn ranh – đó là khi dân tộc không còn con đường nào khác ngoài đứng lên.
Tên ông có thể không được khắc nhiều bia đá, nhưng khí phách của ông đã trở thành một phần máu thịt của đất Quảng Nam – vùng đất “chưa mưa đã thấm”.



