Lê Đình Dương – Trí thức tân học và nhà cách mạng phong trào Duy Tân
Lê Đình Dương, tự Đốc Chín, sinh năm 1894 tại làng Đông Mỹ (Na Kham),
tổng Phú Khương Thượng, Gò Nổi, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. (Nay
thuộc thị xã Điện Bàn, Thành Phố Đà Nẵng. Ông là con trai của Đông Các Đại
Học Sĩ, Binh Bộ Thượng Thư – Hà An Tổng Đốc Lê Đình Đỉnh và Chánh phẩm
phu nhân Phan Thị Hiệu. Từ nhỏ, Lê Đình Dương đã được thụ huấn Nho học tại
gia dưới sự hướng dẫn của cha, cùng người em ruột Lê Đình Thám – bác sĩ
tương lai – nổi tiếng thông minh, thông hiểu kinh sử, văn chương, thi phú. Tuy
nhiên, sau khoa thi Giáp Thìn năm 1904, Nho học đã không còn phù hợp với
thời đại, nên Lê Đình Dương chuyển sang tân học và theo đuổi con đường học
tập hiện đại
.
Ông học tại trường Pháp–Việt Hội An, sau đó lên Quốc Học Huế, và tiếp tục học
tại Cao đẳng Y khoa Đông Dương ở Hà Nội. Ở mỗi môi trường học tập, Lê
Đình Dương đều nổi bật về trí tuệ và đức độ. Tư tưởng yêu nước và chí hướng
cách mạng được hình thành sớm, chịu ảnh hưởng của gia đình, các cuộc dân
biến ở Quảng Nam và phong trào Duy Tân Nhật Bản, đồng thời được bồi đắp
thêm từ tư tưởng Tam Dân Chủ nghĩa của Trung Hoa. Khi còn là sinh viên, ông
đã âm thầm tham gia Việt Nam Quang Phục Hội, tổ chức tiền thân của Việt
Nam Quốc Dân Đảng, nuôi chí lớn để góp phần giải phóng dân tộc, bảo vệ danh
dự Tổ quốc.
Năm 1915, Lê Đình Dương tốt nghiệp Á khoa khóa đầu tiên của Cao đẳng Y
khoa Đông Dương. Cùng khóa có Lê Văn Kỷ, tiến sĩ Hán học, người Nghệ An,
đậu Thủ khoa. Sau khi ra trường, ông được bổ nhiệm làm Y sĩ chuyên ngành
nhãn khoa tại bệnh viện Hội An. Ông nổi tiếng tận tụy với bệnh nhân, nhất là
người nghèo, được sĩ phu và dân chúng kính trọng nhờ tính tình thuần hậu, bình
dân và giàu lòng nhân ái. Tuy vậy, bên cạnh công việc y tế, ông vẫn âm thầm
tham gia phong trào cách mạng, với mục tiêu khôi phục chủ quyền dân tộc nhân
cơ hội Thế chiến I, khi Pháp và Đức đang lao vào xung đột.
Trong phong trào Duy Tân, Lê Đình Dương giữ vai trò Nam Ngãi Tổng Trấn
kiêm cố vấn đặc trách ngoại giao, trực tiếp liên lạc giữa trung ương và địa
phương, mật kiến vua Duy Tân nhận chỉ thị, phối hợp hoạch định chương trình
hành động và huy động lực lượng. Ông còn vận động, tập luyện khoảng 2.000
lính mộ ở Đà Nẵng – những quân lính Việt Nam được Pháp tuyển mộ – chuẩn bị
chiến đấu khi khởi nghĩa nổ ra. Công việc của ông vừa bí mật vừa nguy hiểm,
nhưng thể hiện tầm nhìn, đạo đức và tinh thần trách nhiệm cao đối với sự nghiệp
cách mạng.
Kế hoạch khởi nghĩa Duy Tân năm 1916 bị bại lộ do sự phản bội của một số nội
phản và mật báo. Ngày 3–4/5/1916, vua Duy Tân cùng các lãnh tụ Trần Cao
Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu rời hoàng thành, nhưng
ngay lập tức bị quân Pháp truy bắt. Nhiều lãnh tụ bị xử chém công khai, khiến
phong trào tan rã. Lê Đình Dương bị bắt tại Hội An, giam tại Vĩnh Điện, và sau
đó giải ra Huế để xét xử.
Dù đối diện án tử, ông vẫn thẳng thắn nhận toàn bộ trách nhiệm và đề nghị chỉ
xử mình để bảo vệ đồng chí, đồng thời thể hiện khí phách của một người yêu
nước. Khi Khâm sứ Charles hỏi: “Tại sao anh lại phản bội nước Pháp – nước
đã nuôi anh ăn học?”, ông đáp: “Người Pháp còn tiếc hai tỉnh Alsace và
Lorraine về tay người Đức, huống chi chúng tôi mất cả nước. Chúng tôi
không thể cúi đầu. Quyền lợi và danh dự Tổ quốc phải đặt lên trên hết mọi
sự.” Lời đáp này khiến Khâm sứ Charles xúc động và giảm án tử hình xuống
thành 20 năm khổ sai biệt xứ.
Ông bị đày đến Khánh Hòa, sau đó đi Ban Mê Thuột – vùng núi rừng hoang vu,
nơi tù nhân phải khai khẩn đất đai, chịu sốt rét, kiết lỵ, cùng sự áp bức tàn bạo từ
cường quyền thực dân Pháp. Dù sống trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, Lê
Đình Dương vẫn tận tâm cứu chữa tù nhân, dân bản địa, đồng thời trở thành đại
diện bảo vệ quyền lợi cho tù nhân khổ sai trước công sứ Pháp. Sự tận tụy và
nhân đạo của ông được nhiều người Kinh và Thượng kính trọng, tạo nên tình
cảm gắn bó sâu sắc giữa ông và cộng đồng nơi đây.
Sức khỏe suy kiệt do lao dịch và điều kiện sống khắc nghiệt, năm 1919, Lê Đình
Dương tự sát bằng Cyanure de Mercure tại Ban Mê Thuột để giải thoát bản thân,
hưởng dương 25 tuổi, để lại người vợ trẻ Hoàng Thị Tuất (Diệu Mãn) và một
con gái. Dù tuổi đời ngắn ngủi, ông để lại hình ảnh một trí thức tân học, người
thầy thuốc giàu lòng nhân ái và chiến sĩ cách mạng dũng cảm, luôn đặt danh
dự và độc lập dân tộc lên trên tất cả.
Tên tuổi ông, cùng với các nhà cách mạng phong trào Duy Tân khác, được vinh
danh qua các địa danh như Liên xã Chương Dương ở Quảng Nam, các đường
phố tại Huế và Quảng Nam, cũng như Viện Nhãn Khoa Lê Đình Dương. Ông là
biểu tượng của thế hệ thanh niên trí thức đầu thế kỷ XX, tấm gương về tinh thần
sống vì lý tưởng, lòng dũng cảm và sự hy sinh cho Tổ quốc – những giá trị vẫn
còn nguyên sức sống đến ngày nay.


