LÊ DUẨN - CỐ TỔNG BÍ THƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Câu chuyện thời hoa lửa - Lê Duẩn Tổng Bí thư Lê Duẩn, tên khai sinh là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 7 tháng 4 năm 1907 tại làng Bích La Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị, trong một gia đình lao động nông dân nghèo. Lớn lên trong cảnh áp bức, bóc lột của thực dân Pháp và tầng lớp địa chủ, ông sớm thấu hiểu nỗi khổ của nhân dân lao động, hình thành trong ông một tinh thần yêu nước, ý chí phản kháng mạnh mẽ ngay từ khi còn trẻ. Bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông đến khi tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1928, rồi trở thành một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương khi Đảng được thành lập vào năm 1930. Con đường cách mạng của ông ngay từ đầu đã phải đối mặt với muôn vàn gian khổ. Năm 1931, ông bị thực dân Pháp bắt giữ tại Hải Phòng do bị phản bội, bị kết án 20 năm tù giam và đày đi khắp các nhà lao khét tiếng như Hỏa Lò (Hà Nội), Sơn La, và đỉnh điểm là Côn Đảo. Tuy nhiên, những năm tháng trong tù đày khắc nghiệt ấy không làm dập tắt được tinh thần cách mạng của ông. Cùng với các đồng chí đảng viên khác, ông đã tổ chức các cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù, biến những năm tháng lao tù thành trường học cách mạng, nơi bồi đắp lý tưởng và giữ vững ý chí kiên cường. Năm 1936, nhờ chính sách ân xá của chính quyền thực dân, ông được trả tự do. Vừa ra khỏi cánh cửa nhà tù, ông không hề nghỉ ngơi mà ngay lập tức lao mình vào công cuộc khôi phục và phát triển phong trào cách mạng tại các tỉnh miền Trung. Ông đã cùng tập thể lãnh đạo Xứ ủy Trung Kỳ, đặc biệt là sau khi giữ chức Bí thư Xứ ủy Trung Kỳ vào cuối năm 1938, tổ chức các phong trào đấu tranh sôi nổi, đòi hỏi dân sinh, dân chủ, từng bước củng cố và mở rộng các tổ chức của Mặt trận Dân chủ Đông Dương. Bước sang giai đoạn 1939-1940, với tư cách là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, ông cùng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ sáu, quyết định thành lập Mặt trận Phản đế Đông Dương, chuyển hướng chiến lược cách mạng sang giai đoạn mới với mục tiêu cao nhất là giành chính quyền. Tuy nhiên, ngay trong lúc đang triển khai nhiệm vụ quan trọng này, ông và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã bị mật thám Pháp bắt giữ tại Sài Gòn vào đầu năm 1940. Ông phải đối mặt với bản án 5 năm tù giam, 10 năm quản thúc và lần thứ hai bị đày đi Côn Đảo. Cuộc đời hoạt động cách mạng của ông gắn liền với những lần vào sinh ra tử. Ông chỉ thực sự được tự do sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Đảng và Chính phủ cách mạng đã đón tất cả tù nhân chính trị, trong đó có ông, về đất liền. Sau đó, ông được điều động tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp tại Nam Bộ, giữ các chức vụ Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, trực tiếp chỉ đạo các hoạt động cách mạng tại chiến trường ác liệt này. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời chia cắt, ông được Trung ương Đảng phân công ở lại miền Nam để lãnh đạo phong trào cách mạng, củng cố các cơ sở đảng và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh lâu dài chống Mỹ và chính quyền tay sai Diệm. Trong những năm tháng đầy thử thách này, ông đã hoàn thành bản Đề cương cách mạng miền Nam, một văn kiện quan trọng, xác định con đường đấu tranh bằng cách mạng vũ trang là con đường duy nhất để thống nhất đất nước, ngoài ra không còn con đường nào khác. Năm 1957, ông được triệu tập về miền Bắc để trực tiếp công tác bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đóng góp vào công việc lãnh đạo chung của Đảng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960, ông được bầu làm Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trở thành người lãnh đạo thực tế của cách mạng Việt Nam. Suốt 15 năm trên cương vị này, ông cùng tập thể lãnh đạo Đảng đã kiên định đường lối độc lập, tự chủ, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế, và lãnh đạo quân dân cả nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy cam go, quyết liệt. Trong bối cảnh cuộc kháng chiến ngày càng gay gắt, sau sự ra đi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1969, ông Lê Duẩn tiếp tục giữ vai trò Tổng Bí thư, dẫn dắt toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua mọi khó khăn, đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng. Ông đã có những quyết định chiến lược mang tính lịch sử, chỉ đạo các chiến dịch quân sự then chốt, trong đó có Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đưa đất nước hoàn toàn thống nhất. Cuộc đời và sự nghiệp của ông Lê Duẩn không chỉ là câu chuyện về đấu tranh chính trị và quân sự, mà còn là minh chứng cho sự hy sinh cá nhân vì đại nghĩa dân tộc. Trong thời kỳ chiến tranh, ông đã phải tạm gác lại hạnh phúc gia đình, xa cách vợ con trong nhiều năm để thực hiện nhiệm vụ. Vợ ông, bà Nguyễn Thụy Nga, cũng đã trải qua những năm tháng gian khổ, một mình nuôi dạy con cái và tiếp tục hoạt động cách mạng trong điều kiện vô cùng khó khăn, hiểm nguy. Dù xa cách, tình cảm vợ chồng vẫn sâu nặng, được thể hiện qua những cử chỉ quan tâm, những lời dặn dò đầy trách nhiệm. Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục giữ cương vị Tổng Bí thư, lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Ông đã cùng tập thể lãnh đạo Đảng hoạch định và triển khai các chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, đóng góp to lớn vào việc khôi phục, hàn gắn vết thương chiến tranh và đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã cống hiến trọn đời mình cho cách mạng Việt Nam, để lại một di sản đồ sộ về tư tưởng, lý luận và kinh nghiệm lãnh đạo, là một trong những nhà lãnh đạo kiệt xuất đã góp phần làm nên những trang sử hào hùng của dân tộc.



