Lê Duẩn – Nhà lãnh đạo kiên định, người góp phần chèo lái sự nghiệp thống nhất đất nước
Đồng chí Lê Duẩn là một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của cách mạng Việt Nam, có nhiều năm gắn bó với phong trào cách mạng ở Nam Bộ và giữ vai trò quan trọng trong lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Với bản lĩnh chính trị kiên định, tư duy chiến lược và tinh thần cống hiến, đồng chí cùng tập thể lãnh đạo Đảng góp phần đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử cách mạng Việt Nam thế kỷ XX.
Đồng chí Lê Duẩn, tên khai sinh là Lê Văn Nhuận, sinh ngày 07 tháng 4 năm 1907 tại xã Triệu Thành, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị trong một gia đình lao động yêu nước. Từ khi còn trẻ, đồng chí đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng và tích cực tham gia các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp.
Năm 1928, đồng chí tham gia hoạt động cách mạng trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1930, đồng chí được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau khi Đảng ra đời, đồng chí được giao nhiều nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng tổ chức Đảng và lãnh đạo phong trào cách mạng ở Trung Kỳ.
Trong những năm 1931–1936, đồng chí nhiều lần bị thực dân Pháp bắt giam và kết án tù tại các nhà lao khét tiếng như Hỏa Lò và Côn Đảo. Dù phải chịu nhiều cực hình, đồng chí vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản, kiên trì đấu tranh, tuyên truyền lý tưởng cách mạng và tổ chức các hoạt động trong nhà tù.
Sau khi được trả tự do năm 1936, đồng chí tiếp tục hoạt động cách mạng và giữ nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng của Đảng. Năm 1945, đồng chí tham gia lãnh đạo phong trào Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.
Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí giữ chức Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến tại chiến trường Nam Bộ. Với bản lĩnh chính trị vững vàng và tư duy chiến lược sắc bén, đồng chí đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc xây dựng lực lượng cách mạng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.
Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đồng chí ở lại miền Nam một thời gian để chỉ đạo phong trào cách mạng trước khi tập kết ra miền Bắc. Năm 1957, đồng chí được bầu vào Bộ Chính trị. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí được bầu giữ cương vị Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, trực tiếp cùng Trung ương Đảng lãnh đạo sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời năm 1969, đồng chí tiếp tục cùng tập thể Bộ Chính trị lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vượt qua nhiều khó khăn, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước là dấu mốc lịch sử gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng mà đồng chí là một trong những người giữ vai trò nòng cốt.
Sau khi đất nước thống nhất, đồng chí tiếp tục được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) và tiếp tục được tín nhiệm tại Đại hội lần thứ V (năm 1982). Đồng chí cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảng lãnh đạo công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước trong giai đoạn mới.
Đồng chí Lê Duẩn liên tục được bầu là Ủy viên Bộ Chính trị, Đại biểu Quốc hội nhiều khóa và có nhiều đóng góp quan trọng trong việc hoạch định đường lối cách mạng Việt Nam. Những tác phẩm, bài viết và quan điểm của đồng chí về xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh và đại đoàn kết dân tộc vẫn còn nhiều giá trị lý luận và thực tiễn.
Ngày 10 tháng 7 năm 1986, đồng chí Lê Duẩn từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi.
Với những cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, đồng chí Lê Duẩn được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng cùng nhiều phần thưởng cao quý khác. Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí là tấm gương sáng về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, tinh thần kiên cường, ý chí độc lập dân tộc và khát vọng xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, phát triển.



