Lê Đức Anh – chỉ huy cánh quân phía tây nam tiến vào Sài Gòn
Lê Đức Anh sinh ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại vùng Phú Lộc, Thừa Thiên Huế. Ông tham gia phong trào cách mạng từ thời trẻ và đi qua nhiều nhiệm vụ quân sự trong kháng chiến chống Pháp. Sau năm 1954, ông tiếp tục công tác ở quân đội; khi chiến tranh ở miền Nam mở rộng, ông được phân công vào những địa bàn tác chiến quan trọng. Cuộc đời binh nghiệp của ông gắn với công việc của một người chỉ huy qua nhiều cấp, từ việc gây dựng lực lượng, theo dõi chiến trường đến tổ chức những chiến dịch lớn.
Trong những năm 1960, Lê Đức Anh hoạt động ở miền Nam và tham gia chỉ đạo nhiều trận đánh. Ông có mặt trong giai đoạn quân Mỹ mở các cuộc hành quân quy mô lớn, trong đó có cuộc hành quân Junction City năm 1967 ở miền Đông Nam Bộ. Đối với lực lượng cách mạng, đánh trong hoàn cảnh đối phương có ưu thế về máy bay, hỏa lực và phương tiện cơ giới buộc người chỉ huy phải hiểu địa hình, khả năng cơ động của đơn vị và sự hỗ trợ của dân địa phương. Đến Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, diễn biến chiến trường lại đặt ra những yêu cầu khác về thời điểm, giữ liên lạc và phối hợp lực lượng.
Sau Hiệp định Paris năm 1973, chiến sự chưa dừng lại. Lê Đức Anh tiếp tục theo dõi và chỉ đạo ở những địa bàn phía Nam. Trong cuộc tổng tiến công mùa xuân năm 1975, ông chỉ huy cánh quân ở phía tây nam tiến vào Sài Gòn. Hướng tiến công này có mạng lưới kênh rạch và nhiều điểm cần vượt qua, khác hẳn những con đường hành quân ở vùng cao nguyên hoặc miền Đông. Các cánh quân phải phối hợp thời gian và mục tiêu để tạo sức ép đồng thời lên hệ thống phòng thủ. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 kết thúc một giai đoạn chiến tranh, nhưng nhiệm vụ quân sự của ông vẫn tiếp tục.
Những năm sau thống nhất, ông đảm nhận công tác tại Quân khu 9, khu vực đồng bằng sông Cửu Long có địa hình sông nước rất đặc thù. Khi xung đột biên giới Tây Nam bùng lên, ông tham gia chỉ đạo lực lượng ở mặt trận này và tiếp tục đảm nhiệm nhiệm vụ liên quan đến Campuchia. Đó là một thời kỳ có nhiều tổn thất và biến động đối với cư dân vùng biên. Sau khi trở về các vị trí lãnh đạo cấp cao, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Những kinh nghiệm từ chiến trường và quản lý quân đội đưa ông sang một giai đoạn công tác ở cấp nhà nước.
Từ năm 1992 đến năm 1997, Lê Đức Anh là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ông mất năm 2019. Một đời công tác đưa ông từ các mặt trận thời chiến đến cương vị đứng đầu Nhà nước trong thời kỳ đổi mới. Những năm ở miền Đông, hướng tây nam Sài Gòn và vùng biên giới Tây Nam đặt ông trước những bài toán quân sự khác nhau; thời gian sau đó đặt ra trách nhiệm quản lý đất nước trong hòa bình. Vì thế tiểu sử của ông trải qua nhiều chương lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, mỗi chương gắn với một địa bàn, một nhiệm vụ và những con người cùng làm việc với ông.



