Lê Đức Anh - Vị tướng tài ba của dân tộc Việt Nam
Đỗ Trần Phương Linh
Ðồng chí Lê Ðức Anh sinh ngày 1-12-1920 trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, quê quán tại xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông nội của đồng chí là một sĩ phu tham gia Phong trào Cần Vương chống Pháp.
Trên mảnh đất quê hương giàu truyền thống yêu nước và hiếu học, thấu hiểu sự nghèo đói, lam lũ của người dân lao động cùng khổ dưới ách thống trị của thực dân, đế quốc, người thiếu niên Lê Ðức Anh đã sớm giác ngộ và tham gia hoạt động cách mạng.
Năm 1937, khi mới 17 tuổi, đồng chí tham gia phong trào dân chủ ở Phú Vang, Thừa Thiên-Huế; tháng 5-1938, đồng chí được kết nạp vào Ðảng Cộng sản Ðông Dương.
Trong thời kỳ 1939-1944, đồng chí hoạt động trong các hội Ái hữu tại Hội An, Ðà Lạt, Lộc Ninh, Thủ Dầu Một và các nghiệp đoàn cao-su ở Lộc Ninh, Quảng Lợi, Xa Can, Xa Cát.
Là chiến sĩ cộng sản kiên trung, mang trong mình ý chí tất cả vì độc lập, tự do, vì sự nghiệp cách mạng của Ðảng, đầu năm 1945, đồng chí được giao nhiệm vụ tổ chức lực lượng trung kiên trong các nghiệp đoàn, chuẩn bị đấu tranh võ trang.
Tháng 8-1945, đồng chí được phân công phụ trách chỉ huy khởi nghĩa giành chính quyền ở các đồn điền cao-su và hai huyện Hớn Quản, Bù Ðốp, tỉnh Bình Phước. Thời gian này, đồng chí tham gia Quân đội, chỉ huy giành chính quyền ở Lộc Ninh, tham gia tỉnh ủy lâm thời, phụ trách quân sự phía Bắc tỉnh Thủ Dầu Một; giữ các chức vụ Chính trị viên Chi đội 1 (sau là Trung đoàn 301), Trung đoàn ủy viên, Tỉnh ủy viên Thủ Dầu Một.
Từ năm 1948 đến năm 1954, đồng chí đảm đương nhiều chức vụ quan trọng như: Tham mưu trưởng Khu 7, Khu 8, Quân khu Sài Gòn - Chợ Lớn, Quân khu ủy viên, Tham mưu phó Bộ Tư lệnh Nam Bộ.

Đồng chí Lê Đức Anh (hàng đứng thứ hai từ phải qua) cùng với bộ đội khu Sài Gòn-Chợ Lớn thời điểm 1948-1950. Ảnh: Tư liệu
Sau Hiệp định Geneva về lập lại hòa bình ở Ðông Dương năm 1954, đồng chí tập kết ra Bắc; từ năm 1955 đến năm 1963 là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, rồi Cục phó, Cục trưởng Cục Quân lực - Bộ Tổng Tham mưu và trở thành Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
Từ đầu năm 1964, Ðại tá Lê Ðức Anh trở lại chiến trường miền Nam, đảm nhiệm các chức vụ Tham mưu trưởng, rồi Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền; Tư lệnh Khu 9, Phó Bí thư Khu ủy; Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh miền Nam, Ủy viên Quân ủy Miền.
Ðồng chí là một trong hai sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam được phong hàm vượt cấp từ Ðại tá lên Trung tướng vào tháng 4-1974.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đồng chí được giao trọng trách Phó Tư lệnh Chiến dịch Hồ Chí Minh kiêm Tư lệnh Cánh quân Tây Nam, đóng góp quan trọng cho thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Trung tướng Lê Đức Anh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp duyệt binh tại Lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (2/9/1975). (Ảnh: TTXVN)
Thực hiện nhiệm vụ được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng giao, từ năm 1976 đến năm 1986, đồng chí là Tư lệnh Quân khu 9, Bí thư Quân Khu ủy, rồi Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 7, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương.
Trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, đồng chí là một trong những tướng lĩnh trực tiếp chỉ huy chiến trường và giành nhiều thắng lợi quan trọng, bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Năm 1981, đồng chí được bổ nhiệm làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh Quân tình nguyện Việt Nam ở Campuchia.

Chủ tịch Cuba Fidel Castro đón Chủ tịch nước Lê Đức Anh tại sân bay quốc tế José Martí ở thủ đô La Habana, trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Cuba từ 12 - 17/10/1995. Ảnh: Cao Phong – TTXVN
Năm 1986, Ðại tướng Lê Ðức Anh là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, từ năm 1987 là Bộ trưởng Quốc phòng, Phó Bí thư Ðảng ủy Quân sự Trung ương.
Ðồng chí là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 1992-1997. Ðồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Ðảng các khóa IV, V, VI, VII, VIII; Bí thư Trung ương Ðảng khóa VII; Ủy viên Bộ Chính trị khóa V, VI, VII, VIII; Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Ðảng từ năm 1997 đến tháng 4-2001; đại biểu Quốc hội các khóa VI, VIII, IX.



