Bài viết

Lê Đức Thọ – Người chiến sĩ đi qua những năm tháng khốc liệt của lịch sử

Có những con người dành cả cuộc đời mình để đi qua những bước ngoặt lớn của dân tộc. Cuộc đời họ không chỉ được đo bằng tuổi tác, mà bằng những năm tháng tù đày, những chặng đường hành quân, những cuộc họp bí mật, những chiến trường khói lửa và cả những cuộc đấu trí căng thẳng trên bàn đàm phán. Đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật Phan Đình Khải, là một con người như thế

Hà Nội13/08/2026Xã Tùng Vài (Đoàn xã Tùng Vài)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Lê Đức Thọ – Người chiến sĩ đi qua những năm tháng khốc liệt của lịch sử

Có những con người dành cả cuộc đời mình để đi qua những bước ngoặt lớn của dân tộc. Cuộc đời họ không chỉ được đo bằng tuổi tác, mà bằng những năm tháng tù đày, những chặng đường hành quân, những cuộc họp bí mật, những chiến trường khói lửa và cả những cuộc đấu trí căng thẳng trên bàn đàm phán. Đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật Phan Đình Khải, là một con người như thế. Gần như suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ông gắn mình với những thời khắc quyết định của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX.

Ông sinh ngày 10/10/1911 tại Nam Định, trong một gia đình nhà nho. Khi còn rất trẻ, Phan Đình Khải đã sớm tiếp xúc với tư tưởng yêu nước và cách mạng. Năm 1926, khi mới 15 tuổi, ông tham gia các hoạt động yêu nước, rồi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đến tháng 10/1929, ông được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng và trở thành Bí thư chi bộ học sinh. Một chàng trai tuổi đôi mươi khi ấy đã chọn cho mình con đường mà ông biết trước sẽ đầy hiểm nguy.

Năm 1930, phong trào cách mạng ở Nam Định bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội. Lê Đức Thọ bị bắt khi mới 19 tuổi. Năm 1931, ông bị kết án và đày ra Côn Đảo. Hơn năm năm trong "địa ngục trần gian", người thanh niên ấy không khuất phục. Trong lao tù, ông cùng những người cộng sản tổ chức đấu tranh, học tập và xây dựng tổ chức. Côn Đảo không thể biến ông thành một người đầu hàng; trái lại, nơi ấy tôi luyện thêm bản lĩnh của một người chiến sĩ.

Ra tù cuối năm 1936, ông trở về Nam Định nhưng vẫn bị chính quyền thực dân quản thúc. Không lâu sau, ông lại tìm cách liên lạc với tổ chức và tiếp tục hoạt động. Ông tham gia công tác báo chí, xây dựng cơ sở cách mạng và viết những tài liệu phục vụ phong trào. Nhưng tự do ấy không kéo dài. Năm 1939, ông lại bị bắt, bị giam tại Hỏa Lò rồi đày lên Sơn La. Trong nhà tù Sơn La, ông cùng đồng chí Tô Hiệu và những người cộng sản khác tiếp tục tổ chức đấu tranh.

Tháng 9/1944, sau khi được trả tự do, Phan Đình Khải được giao những nhiệm vụ quan trọng trong tổ chức của Đảng. Từ đây, cái tên Lê Đức Thọ dần gắn với ông. Ông tham gia công tác tổ chức, huấn luyện cán bộ, bảo vệ Trung ương và xây dựng các căn cứ an toàn. Trong những ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ông là một trong những cán bộ chủ chốt của Trung ương.

Sau khi chính quyền cách mạng ra đời, đất nước đứng trước muôn vàn thử thách. Thù trong, giặc ngoài, chiến tranh và những khó khăn của một chính quyền non trẻ đặt lên vai những người lãnh đạo một trách nhiệm khổng lồ. Lê Đức Thọ được giao phụ trách công tác tổ chức, đào tạo cán bộ và xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, ông được cử vào Nam Bộ. Cuộc hành trình từ Việt Bắc vào Nam kéo dài nhiều tháng, vượt qua những vùng chiến sự, rừng núi và hiểm nguy.

Tại Nam Bộ, ông sát cánh cùng những người lãnh đạo cách mạng miền Nam, trong đó có Lê Duẩn. Ông lần lượt đảm nhiệm nhiều trọng trách, trực tiếp tham gia xây dựng tổ chức, củng cố lực lượng và lãnh đạo phong trào trong điều kiện chiến tranh vô cùng khốc liệt.

Năm 1954, chiến thắng Điện Biên Phủ làm rung chuyển hệ thống thuộc địa của thực dân Pháp. Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được giải phóng nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt. Lê Đức Thọ được điều động ra Bắc và tiếp tục đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng liên quan đến cách mạng miền Nam.

Nhưng nếu những năm tháng tù đày rèn cho ông sự kiên cường thì những năm chiến tranh lại tôi luyện khả năng tổ chức và lãnh đạo. Đặc biệt, bước ngoặt lớn trong cuộc đời ông đến vào năm 1968, khi ông được giao nhiệm vụ tham gia lãnh đạo cuộc đấu tranh ngoại giao tại Paris.

Ngày 30/5/1968, Lê Đức Thọ rời Hà Nội sang Paris. Từ đây bắt đầu một cuộc đấu trí kéo dài gần năm năm với phía Mỹ. Đó không phải là một cuộc chiến bằng súng đạn. Vũ khí của ông là lập trường, lý lẽ, sự kiên định và nghệ thuật ngoại giao. Đối diện ông là Henry Kissinger, một nhà ngoại giao nổi tiếng của nước Mỹ. Những cuộc gặp giữa hai người diễn ra khi chiến tranh vẫn đang tiếp tục trên chiến trường Việt Nam.

Có những lúc đàm phán tưởng như rơi vào bế tắc. Có những thời điểm hai bên tranh luận gay gắt đến từng câu chữ. Nhưng phía Việt Nam kiên trì yêu cầu Mỹ chấm dứt chiến tranh, rút quân và tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam.

Sau những năm tháng vừa đánh, vừa đàm, cùng với những biến động quyết định trên chiến trường, cuối cùng Hiệp định Paris được ký ngày 27/1/1973. Lê Đức Thọ là người thay mặt phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký kết hiệp định. Ông được trao giải Nobel Hòa bình cùng Henry Kissinger nhưng đã từ chối nhận giải, với lý do hòa bình tại Việt Nam khi ấy vẫn chưa thực sự được lập lại.

Hai năm sau, ngày 30/4/1975, chiến tranh kết thúc, miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất. Lê Đức Thọ cũng có mặt tại chiến trường trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, trực tiếp tham gia công việc chỉ đạo giải phóng Sài Gòn.

Nhìn lại cuộc đời ông, có lẽ điều khiến người ta nhớ nhất không chỉ là những chức vụ hay những cuộc đàm phán nổi tiếng. Đó là một hành trình kéo dài từ những ngày chàng trai 19 tuổi bị bắt, qua Côn Đảo, Hỏa Lò, Sơn La, qua những cánh rừng Nam Bộ, qua những năm tháng chiến tranh và cuối cùng đến bàn hội nghị ở Paris.

Ông từng đi qua nhà tù của thực dân, đi qua chiến trường và đi qua những cuộc đấu trí ngoại giao. Từ một người thanh niên Nam Định sớm giác ngộ cách mạng, Lê Đức Thọ trở thành một trong những nhân vật có ảnh hưởng lớn trong nhiều chặng đường của cách mạng Việt Nam.

Ngày 13/10/1990, Lê Đức Thọ qua đời tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Ông để lại phía sau 61 năm tuổi Đảng và hơn sáu thập kỷ hoạt động cách mạng.

Có những người sinh ra trong thời bình để tận hưởng cuộc sống. Nhưng cũng có những người sinh ra đúng vào thời đại mà đất nước cần họ đứng lên. Lê Đức Thọ đã dành gần trọn cuộc đời mình cho những năm tháng dữ dội ấy. Từ song sắt Côn Đảo đến bàn đàm phán Paris, từ những cánh rừng Nam Bộ đến ngày đất nước thống nhất, cuộc đời ông là một lát cắt đặc biệt của thế kỷ XX – một thế kỷ mà lịch sử Việt Nam được viết bằng mồ hôi, nước mắt, máu và cả những cuộc đấu trí không tiếng súng.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn