Lê Đức Thọ - Nhà chiến lược kiệt xuất và bản lĩnh trên bàn đàm phán
Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và ngoại giao Việt Nam thế kỷ XX, Đồng chí Lê Đức Thọ (1911 – 1990) tỏa sáng như một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một chính khách sắc sảo và là biểu tượng của tinh thần độc lập, tự chủ. Tên tuổi của ông gắn liền với những mốc son chói lọi của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là vai trò Cố vấn đặc biệt tại Hội nghị Paris – nơi diễn ra cuộc đấu trí ngoại giao cam go và dài nhất trong lịch sử.
Sinh ra trong một gia đình khoa bảng tại Nam Định, Lê Đức Thọ (tên thật là Phan Đình Khải) giác ngộ cách mạng từ rất sớm. Ông gia nhập Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội khi mới 15 tuổi và trở thành một trong những đảng viên lớp đầu tiên của Đảng Cộng sản Đông Dương. Suốt nhiều thập kỷ, ông trải qua hàng loạt nhà tù khắc nghiệt của thực dân Pháp như Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo. Những năm tháng giam cầm không làm nhụt chí mà ngược lại, đã rèn đúc nên một Lê Đức Thọ kiên cường, sắc bén và tràn đầy bản lĩnh chính trị.
Sau Cách mạng Tháng Tám, ông đảm nhiệm nhiều trọng trách lớn của Đảng và Nhà nước: Trưởng Bàn Tổ chức Trung ương, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam... Ở bất kỳ vị trí nào, ông cũng thể hiện tầm nhìn chiến lược, khả năng tổ chức xuất sắc và tư duy thực tiễn sâu sắc. Tuy nhiên, đỉnh cao trong sự nghiệp của ông chính là giai đoạn 1968 – 1973, khi ông được Bộ Chính trị phân công làm Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris về Việt Nam.
Trên bàn đàm phán Paris, Lê Đức Thọ phải đối đầu trực tiếp với Henry Kissinger – Ngoại trưởng, Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ, một chuyên gia ngoại giao lão luyện. Cuộc thương lượng kéo dài gần 5 năm với gần 200 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa hai ông. Bằng trí tuệ sắc sảo, sự kiên định về nguyên tắc kết hợp với nghệ thuật "vừa đánh vừa đàm" linh hoạt, Lê Đức Thọ đã buộc phía Mỹ phải chấp nhận điều khoản cốt lõi: rút toàn bộ quân đội về nước, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Tờ The New York Times thời bấy giờ từng nhận xét Lê Đức Thọ là người đàm phán "khiến Washington phải nể sợ bởi sự kiên định không gì lay chuyển."
Năm 1973, Ủy ban Nobel Thụy Điển quyết định trao giải Nobel Hòa bình cho Lê Đức Thọ và Henry Kissinger vì những đóng góp trong việc ký kết Hiệp định Paris. Tuy nhiên, ông đã có một quyết định lịch sử: từ chối nhận giải thưởng cao quý này. Ông thẳng thắn tuyên bố rằng hòa bình vẫn chưa thực sự lặp lại trên đất nước Việt Nam khi quân đội Mỹ chưa rút hết và chính quyền Sài Gòn vẫn tiếp tục vi phạm hiệp định. Hành động ấy không chỉ thể hiện khí tiết của một nhà cách mạng vô sản mà còn khẳng định lòng tự tôn dân tộc sâu sắc.
Sau thắng lợi xuân 1975, ông tiếp tục cống hiến cho công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và công tác tổ chức cán bộ của Đảng cho đến khi qua đời năm 1990.
Lê Đức Thọ không chỉ là một nhà chính trị, nhà ngoại giao xuất sắc mà còn là một tâm hồn thơ giàu cảm xúc. Tên tuổi và sự nghiệp của ông sống mãi như một minh chứng cho bản lĩnh Việt Nam: kiên cường trong chiến đấu, sắc bén trên bàn đàm phán và luôn giương cao ngọn cờ độc lập, tự do cho dân tộc.


