LÊ ĐỨC THỌ VÀ BẢN LĨNH TRÊN MẶT TRẬN NGOẠI GIAO BẢO VỆ ĐỘC LẬP DÂN TỘC
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng chí Lê Đức Thọ (1911–1990) là một nhà lãnh đạo tiền bối xuất sắc của Đảng, một nhà chính trị – quân sự tài ba và là nhà ngoại giao kiệt xuất. Tên tuổi của ông gắn liền với những bước ngoặt lịch sử quan trọng, đặc biệt là cuộc đàm phán kéo dài kỷ lục tại Hội nghị Paris, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Paris năm 1973.
Đồng chí Lê Đức Thọ (tên thật là Phan Đình Khải, sinh tại Nam Định) tham gia hoạt động cách mạng từ rất sớm và từng bị thực dân Pháp bắt giam, đày đi tù Côn Đảo. Ông kinh qua nhiều vị trí lãnh đạo chủ chốt của Đảng như Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Bí thư Xứ ủy Nam Bộ. Trong kháng chiến chống Mỹ, ông trực tiếp vào miền Nam cùng đồng chí Lê Duẩn chỉ đạo phong trào cách mạng, góp phần xây dựng lực lượng chính trị và quân sự vững chắc tại chiến trường Nam Bộ.
Dấu ấn chói lọi nhất của ông trên trường quốc tế là cương vị Cố vấn đặc biệt của Đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại Hội nghị Paris (1968–1973). Đối đầu trực tiếp trên bàn đàm phán với Cố vấn An ninh Quốc gia Mỹ Henry Kissinger, Lê Đức Thọ đã thể hiện bản lĩnh kiên cường, tư duy chiến lược sắc bén và nghệ thuật ngoại giao "vừa đánh vừa đàm". Ông kiên quyết giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ: buộc Mỹ phải rút toàn bộ quân đội và can thiệp quân sự khỏi miền Nam Việt Nam, đồng thời công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.
Với việc ký kết Hiệp định Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973, mục tiêu chiến lược "Đánh cho Mỹ cút" đã hoàn thành, tạo tiền đề quyết định cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975 "Đánh cho ngụy nhào", giải phóng hoàn toàn miền Nam. Năm 1973, Ủy ban Giải thưởng Nobel đã quyết định trao Giải Nobel Hòa bình cho Lê Đức Thọ và Henry Kissinger. Tuy nhiên, ông đã kiên quyết từ chối nhận giải thưởng này với lý do hòa bình thực sự vẫn chưa được lặp lại trên đất nước Việt Nam khi quân Mỹ chưa rút hết và hòa bình chưa trọn vẹn.



