LÊ DUY CẬN
Lê Duy Cận, sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Đông Nam, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, tiểu đội trưởng lái xe, đại đội 2 trực thuộc Cục Hậu cần, Bộ tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
ANH HÙNG LÊ DUY CẬN
Lê Duy Cận, sinh năm 1941, dân tộc Kinh, quê ở xã Đông Nam, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, nhập ngũ tháng 4 năm 1962. Khi được tuyên dương Anh hùng, đồng chí là thượng sĩ, tiểu đội trưởng lái xe, đại đội 2 trực thuộc Cục Hậu cần, Bộ tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Được giáo dục trong chế độ mới xã hội chủ nghĩa, Lê Duy Cận xác định rõ trách nhiệm người thanh niên phải ra sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngay từ khi tham gia công tác tại địa phương, đồng chí đã luôn luôn tích cực, nhiệt tình với mọi nhiệm vụ, nên nhiều lần đươc khen thưởng. Năm 1962, vào lực lượng Công an nhân dân vũ trang với nhiệm vụ lái xe ô tô, đồng chí lúc nào cũng phấn khởi, yêu nghề; bền bỉ phấn đấu, lập thành tích ngày càng cao, đặc biệt trong những năm chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, đồng chí lập nhiều thành tích xuất sắc.
Tháng 3 năm 1966, Lê Duy Cận đi công tác ở Quảng Bình, đồng chí thay cả lái phụ, lái xe suốt 26 ngày đêm liên tục. Khi đến phà Nghèn (Hà Tình), bị địch đánh phá, hai đồng chí công binh phụ trách phà hy sinh, Lê Duy Cận động viên số anh em còn lại cùng mình kéo phà vượt qua nơi nguy hiểm, đảm bảo người và hàng an toàn.
Tháng 2 năm 1967, Lê Duy Cận lái xe chở hàng vào phục vụ Vĩnh Linh, đồng chí dũng cảm, khôn khéo lái xe khi qua sông Gianh dưới bom đạn địch. Đến cầu Đá Mài lại bị địch đánh phá, đồng chí lợi dụng pháo sáng, vững tay lái, mở hết tốc độ cho xe chạy vượt qua khu vực nguy hiểm. Tới Hồ Xá, địch đánh phá ác liệt 4 giờ liền, Lê Duy Cận tìm đường tránh, tiếp tục chạy đến địa điểm đã định, giao hàng xong, trở về đơn vị an toàn.
Tháng 2 năm 1968, Lê Duy Cận lái xe chở cán bộ đi vào miền Nam công tác. Khi đến Đô Lương (Nghệ An), xe bị gãy cần số, đồng chí dũng cảm đi vào khu vực bãi bom nổ chậm, tìm trong số xe bị cháy lấy được một cần số khác đem về thay thế, đảm bảo cho xe chạy tốt. Khi tới ngầm Thanh Lạng, bị địch đánh phá, sức ép của bom làm máu miệng trào ra, đồng chí cố gắng giữ vững tay lái cho xe chạy qua ngầm, tiếp tục đưa đoàn cán bộ tới nơi tập kết an toàn, đúng thời gian quy định.
Thấm sâu lời dạy của Bác Hồ: "Yêu xe như con, quý xăng như máu", Lê Duy Cận trở thành người tiêu biểu của đơn vị về bao quản, sử dụng xe tốt nhất. Đồng chí lái xe chạy trên 41 nghìn ki-lô-mét bảo đảm an toàn tuyệt đối về hàng và người. Năm 1966, đồng chí nhận của đơn vị khác chuyển tới một chiếc xe khung bị bẹp, các bộ phận đều hư và xộc xệch, long rão, ăn xăng quá mức (45 lít/100 km). Đồng chí chịu khó thu nhặt từng chiếc ốc, sợi dây điện và những phụ tùng cần thiết tìm tòi ở những chiếc xe hỏng khác về tự sửa chữa lấy. Sau một thời gian, chiếc xe đó chạy được và dần dần chạy tốt, hạ mức ăn xăng xuống chỉ còn 29 lít, rồi đến 25 lít/100 km. Trong 4 năm, đồng chí tiết kiệm được 805 lít xăng, nêu kỷ lục tiết kiệm xăng nhiều nhất trong toàn lực lượng. Mỗi khi xe chạy về tới nhà, phát hiện bị hỏng chỗ nào, đồng chí sửa chữa xong mới nghỉ.
Được điều động qua 5 tiểu đội khác nhau, ở đâu Lê Duy Cận cũng góp phần xây dựng tiểu đội của mình trở nên khá. Có lần đang trên đường đi công tác, tới sông Lặng (Thanh Hóa) thấy tiếng kêu trên sông, đồng chí nhanh trí dừng xe, nhảy xuống nước cứu sống một em bé 12 tuổi. Tháng 11 năm 1968, ở gần Phủ Lý, đồng chí kịp thời đưa lên xe một phụ nữ sắp đẻ giữa đường đến bệnh viện.
Trong công tác cũng như trong sinh hoạt, Lê Duy Cận nêu cao vai trò gương mẫu, khiêm tốn, giản dị, chịu khó học tập cầu tiến bộ, được tập thể yêu mến và giúp đỡ đồng chí hoàn thành nhiệm vụ.
Đồng chí đã được tặng thưởng 19 bằng khen và giấy khen, 1 Huân chương Chiến công hạng nhì, 3 năm liên tục là Chiến sĩ thi đua (1966, 1967, 1968).
Ngày 25 tháng 8 năm 1970, Lê Duy Cận được Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


