Lê Giản-Anh hùng lực lượng vũ trang
Lê Giản (tên thật là Tô Gĩ, 2 tháng 8 năm 1913 – 18 tháng 10 năm 2003), là một nhà cách mạng và chính khách Việt Nam. Ông là Phó Giám đốc Sở Liêm phóng Bắc Bộ (9/1945 đến 6/1946), Giám đốc Việt Nam Công an vụ, Giám đốc Nha Công an Trung ương (1946 - 1952), tương đương với Bộ trưởng Bộ Công an ngày nay. Ngoài ra, ông còn từng giữ các chức vụ Vụ trưởng Vụ Trị an hành chính, Bộ Công an (1955 – 1958), Thẩm phán rồi Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (1958 – 1/6/1979). Ông được Nhà nước Việt Nam truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh năm 2011 và Huân chương Quân công hạng Nhất vì những đóng góp của mình đối với đất nước.
Ông sinh ngày 2 tháng 8 năm 1913 tại làng Xuân Cầu, xã Nghũa trụ, tỉnh Hưng yên.
Theo tài liệu của dòng họ Tô, Lê Giản và các nhà cách mạng Tô châu, Tô châu, Tô quang đẩu là anh em họ, cùng là hậu duệ 4 đời của Đốc học Nam Định Tô ngọc nữu.
Thân phụ ông, Tô Chuẩn, làm nghề thầy đồ, dạy chữ Nho và chữ Quốc ngữ cho con em các gia đình khá giả trong làng. Mẹ ông làm buôn bán nhỏ, nuôi sống gia đình. Từ nhỏ, ông được thân phụ dạy chữ Nho, chữ quốc ngữ ; đến năm ngoài 10 tuổi, ông cùng người anh em họ Tô Hiệu theo học các lớp đồng ấu, dự bị, sơ đẳng ở trường làng.
Năm 11 tuổi, mẹ mất, ông được gia đình gửi ra Hà Nội ở nhờ một người bà con buôn bán tơ lụa nuôi cho ăn học và giúp đỡ công việc vặt trong nhà. Ông lần lượt học tại các trường Hàng Vôi, Sinh Từ ở Hà nội cho đến năm 1929, khi đã 18 tuổi, ông thôi học và đi làm thư ký giúp việc cho một nhà buôn Pháp ở Hàng Gai (Hà Nội).
Khi đi học ở Hà Nội, ông sớm chịu ảnh hưởng của các thành viên Việt nam thanh niên cách mạng đồng chí hội đang hoạt động bí mật tại Bắc kỳ. Ông tham gia vào tổ chức Học sinh đoàn và Xích vệ đoàn, những tổ chức ngoại vi của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, nhiều lần tham gia rải truyền đơn tại Hà Nội. Tháng 12 năm 1929, ông được kết nạp vào Đông dương cộng sản đảng.
Tháng 6 năm 1930, sau khi Đông Dương Cộng sản Đảng hợp nhất vào Đảng cộng sản việt nam, ông được Tô Chấn bố trí vào sài gòn cùng với Tô Hiệu, Tô Quang Đẩu. Bấy giờ chính quyền thực dân tại Nam kỳ thẳng tay đàn áp các phong trào cách mạng, ông bị mất liên lạc với tổ chức nên tham gia hoạt động cho Việt nam quốc dân đảng một thời gian trước khi tổ chức này bị chia rẽ và tan rã.
Năm 1931, ông xin vào làm cho một chủ tàu biển chạy tuyến Sài Gòn – Hải phòng –Hongkong – singapore với ý định trốn đi pháp, đi Liên xô hoạt động. Tuy nhiên khi vào đến Hải Phòng thì ông bị chỉ điểm nên bị thực dân Pháp bắt giam. Tuy nhiên sau thời gian dài thẩm tra, do không có chứng cứ buộc tội nên ông được thả tự do.
Sau khi được tha, ông ở lại Hải Phòng, sau đó bắt liên lạc được với tổ chức và hoạt động trong phong trào Mặt trận dân chủ, Hội Ánh sáng, Truyền bá quốc ngữ, Ái hữu tư thục... cho đến năm 1937. Thời gian này, ông nhiều lần làm việc với một lãnh đạo cũ của Việt Nam Quốc dân Đảng, nay hoạt động cho Đảng cộng sạn đông dương, Trần huy hiệu, khởi đầu mối quan hệ thân tình giữa 2 người nhiều năm sau này.
Từ năm 1938 đến 1939, ông được giao nhiệm vụ phụ trách cơ quan giao thông liên lạc, ấn loát ở Hải Phòng, rồi công tác tại Thành ủy Hải Phòng. Trong thời gian này, ông nhiều lần bị mật thám Pháp bắt bớ, tra khảo, nhưng vì không có bằng chứng nên không buộc tội được.
Tuy nhiên, đến đầu năm 1940, do cơ sở bị lộ, ông được lệnh phải di chuyển khỏi Hải Phòng trong vòng 24 giờ. Nhưng do mất liên lạc, ông chưa kịp đào thoát thì bị chính quyền thực dân bắt giam. Ông bị kết án và bị đi lưu đày ở các nhà tù Bắc Mê Hà giang (tháng 6 năm 1940), sơn la (tháng 11 năm 1940)và sau đó bị đưa sang lưu đày ở Madagascar vào tháng 5 năm 1941.Tàu đến Madagascar vào tháng 7 năm 1941. Cùng bị lưu đày tại Madagascar với ông có các ông Hoàng đình rong, phan bội, Vũ văn địch, Nguyễn thế truyền. Theo hồi ký của Lê Giản, tổng cộng trước sau có 27 người Việt Nam bị lưu đày tại đây, gồm cả Hộ pháp Cao Đài phạm công tắc.
Tháng 11 năm 1942, quân đội Anh chiếm lại được Madagascar từ tay chính quyền vichy và trả tự do cho nhóm lưu đày. Ông cùng các đồng chí của mình tuyên bố nguyện vọng được tham gia chống phát xít cùng với quân Đồng minh. Cơ quan tình báo Anh SOE tuyển mộ ông cùng 6 đồng chí nữa vào lực lượng 136(Force 136) và đưa sang Calcutta(ấn độ)huấn luyện về truyền tin, chuẩn bị tung về hoạt động ở Đông dương, bấy giờ đang do quân Nhật kiểm soát. Ngoài Lê Giản, 6 người còn lại là Hoàng đình rong, Đoàn ngọc rệ, phan bội, Vũ văn địch, Nguyễn văn ngọc và Nguyễn văn phòng.
Sau một thời gian huấn luyện, nhóm 7 người lần lượt được quân Đồng Minh thả dù vào Đông Dương thành nhiều đợt. Ông và Hoàng Đình Giong là toán đầu tiên được đưa nhảy dù vào cao bằng ngày 25 tháng 10 năm 1944. Toán thứ 2 gồm Phan Bôi và Đoàn Ngọc Rê, cũng đáp xuống Cao Bằng cuối tháng 11 năm 1944. Toán cuối cùng gồm Nguyễn văn phòng, Nguyễn Văn Ngọc, Vũ Văn Địch được thả vào gần Hà Nội vào tháng 5 năm 1945.Các nhóm có nhiệm vụ bắt liên lạc với các tổ chức chống phát xít, sau đó truyền thông tin về cho bộ chỉ huy quân Đồng Minh ở côn minh(trung quốc). Cả ba nhóm sau đó đều bắt liên lạc và hoạt động cho tổ chức Việt Minh cho đến ngày Nhật bản hàng đầu .
Tháng 5 năm 1958, ông được phân công làm Thẩm phán, Ủy viên Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tháng 9 năm 1960, ông được bổ nhiệm là Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Ông công tác trên cương vị này đến tháng 6 năm 1979 mới nghỉ hưu.
Sau khi nghỉ hưu năm 1979, ông sống cùng gia đình tại thành phố Hà Nội. Trong những năm cuối đời, ông viết nhiều bài báo và tham luận góp ý kiến với lãnh đạo nhà nước về các vấn đề chính trị, về dân chủ. Ông còn được suy cử làm Trưởng ban danh dự Ban liên lạc họ Tô Việt Nam đầu tiên.
Ông mất ngày 18 tháng 10 năm 2003, tại Hà Nội, hưởng thọ 90 tuổi.



