LỄ HỘI LỬA TRÊN ĐỒI CHI LUÔNG
Câu chuyện hồi tưởng về những đêm lễ hội lửa thầm lặng giữa bom đạn – nơi thanh niên xung phong vùng Tây Bắc tổ chức những buổi lửa trại nhỏ, hát dân ca, kể chuyện quê hương để giữ lửa tinh thần, động viên nhau vượt qua gian khổ trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1966-1970), dựa trên sự kiện lịch sử thực tế về đời sống văn hóa tinh thần phong phú của lực lượng thanh niên xung phong địa phương tại vùng Mường Lay - Lai Châu, giữa bom rơi vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc Thái, với giọng văn chân thực,
Tôi vẫn hay trở về Bản Chi Luông mỗi khi trời se lạnh, ngồi bên đống lửa nhỏ mà lòng chợt dâng trào ký ức về những đêm lửa trại thầm lặng giữa bom đạn, nơi tuổi trẻ chúng tôi đã dùng ngọn lửa và tiếng hát để sưởi ấm trái tim giữa lòng Tây Bắc lạnh giá. Sinh năm 1945, ở chính Bản Chi Luông 1 - Na Lay này, tôi lớn lên giữa những điệu xòe và tiếng khèn bè, nghe tiếng gió rừng và tiếng gọi Tổ quốc từ những buổi họp bản. Năm 1966, khi giặc Mỹ leo thang đánh phá, tôi tình nguyện gia nhập Đại đội C177 Thanh niên xung phong. Lúc đó tôi 21 tuổi, vai vác ba lô nhưng lòng vẫn mang theo điệu múa xòe quê hương.
Những đêm giữa bom rơi, chúng tôi vẫn tìm cách nhóm lửa trại nhỏ trong hầm trú ẩn hoặc dưới tán rừng dày, nơi khói không lộ ra ngoài. Đó không phải lễ hội rộn ràng như ngày xưa, mà là những buổi lửa thầm lặng: vài thanh niên ngồi quây quần, đốt lửa bằng cành khô, hát khẽ dân ca Thái, kể chuyện quê nhà, kể về Bác Hồ, về miền Nam ruột thịt. Tiếng khèn bè vang lên nhỏ nhẹ, tiếng hát “Lý cây đa” xen lẫn “Tiếng hát người nữ thanh niên xung phong”, át đi tiếng bom xa xa. Tôi nhớ rõ một đêm năm 1968, sau trận bom B-52 rải thảm, cả đội mệt mỏi, đồng đội hy sinh, chúng tôi nhóm lửa nhỏ trong hầm, hát “Quê hương là chùm khế ngọt” để lau nước mắt, để nhắc nhau phải sống và chiến đấu tiếp. Ngọn lửa ấy nhỏ thôi, nhưng ấm áp lạ thường, sưởi ấm cả thể xác lẫn tâm hồn giữa gió lạnh và cái chết rình rập.
Chất độc da cam rơi xuống, lá rừng úa vàng, nhiều anh em ho hen, da nổi mẩn, nhưng quanh đống lửa, chúng tôi vẫn cười, vẫn kể chuyện vui, vẫn múa xòe nhẹ nhàng trong không gian chật hẹp. Chúng tôi chia nhau từng miếng cơm nguội, từng quả chuối rừng, động viên nhau: “Lửa còn cháy, tinh thần còn sáng, miền Nam còn chờ ngày về”. Những đêm lửa ấy đã giúp chúng tôi giữ vững ý chí, giữ gìn bản sắc dân tộc giữa chiến tranh khốc liệt.
Đến năm 1970, khi tôi xuất ngũ, mang theo kỷ niệm chương và những vết sẹo chiến tranh, tôi trở về Bản Chi Luông, thấy lửa bếp vẫn cháy, núi rừng vẫn xanh, nhưng biết bao đồng đội đã nằm lại dọc những con đường chúng tôi từng mở. Giờ đây, ở tuổi già, ngồi bên đống lửa nhỏ nghe tiếng gió thổi qua rừng, tôi kể lại cho con cháu nghe về những đêm lửa ấy. Chúng tôi chỉ là những thanh niên vùng cao bình thường, nhưng đã dùng tiếng hát, điệu múa và ngọn lửa để giữ lửa tinh thần, để đền ơn Tổ quốc. Lực lượng Thanh niên xung phong – những bóng hoa lửa rực rỡ quanh đống lửa trại Chi Luông – mãi là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam. Tôi mong các cháu sẽ giữ gìn hòa bình hôm nay, noi gương cha anh, để lửa truyền thống mãi cháy, non sông mãi vững vàng, trường tồn.



