LÊ HỒNG PHONG – NGỌN CỜ KIÊN TRUNG CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM (1)
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đồng chí Lê Hồng Phong là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, người chiến sĩ cộng sản kiên trung đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Với bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ sắc bén và tinh thần cách mạng bất khuất, đồng chí đã có những đóng góp to lớn trong việc xây dựng, củng cố và phát triển phong trào cách mạng Việt Nam trong những năm tháng đầy khó khăn, thử thách. Cuộc đời và sự nghiệp của ông mãi là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, tinh thần quốc tế vô sản và đức hy sinh cao cả vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Đồng chí Lê Hồng Phong tên khai sinh là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902 tại làng Đông Thôn, tổng Thông Lãng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay thuộc xã Hưng Thông, tỉnh Nghệ An). Sinh ra trong một gia đình lao động nghèo nhưng giàu truyền thống yêu nước, từ nhỏ ông đã chứng kiến cuộc sống cơ cực của nhân dân dưới ách thống trị hà khắc của thực dân, phong kiến. Những bất công của xã hội đương thời đã sớm hun đúc trong ông lòng yêu nước nồng nàn và ý chí tìm con đường giải phóng dân tộc.
Những năm đầu thế kỷ XX, khi phong trào yêu nước Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, Lê Hồng Phong đã sớm tham gia các hoạt động yêu nước và cách mạng. Năm 1924, ông sang nước ngoài học tập, hoạt động trong phong trào cách mạng quốc tế. Với tinh thần ham học hỏi và ý chí phấn đấu không ngừng, ông được đào tạo tại các trường quân sự và chính trị ở Liên Xô, trở thành một trong những cán bộ cách mạng Việt Nam đầu tiên được trang bị nền tảng lý luận chính trị và kiến thức quân sự hiện đại.
Trong thời gian hoạt động ở nước ngoài, đồng chí tích cực tham gia các tổ chức cách mạng quốc tế, nghiên cứu sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin và không ngừng tìm cách truyền bá tư tưởng cách mạng tiên tiến vào Việt Nam. Ông cùng các đồng chí của mình nỗ lực kết nối phong trào cách mạng trong nước với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, góp phần tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới.
Đặc biệt, sau khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời năm 1930, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ nhưng cũng phải đối mặt với sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp. Sau cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930 – 1931), nhiều cơ sở Đảng bị phá vỡ, nhiều cán bộ lãnh đạo bị bắt giam hoặc hy sinh. Trong bối cảnh vô cùng khó khăn đó, đồng chí Lê Hồng Phong cùng các đồng chí lãnh đạo ở nước ngoài đã kiên trì hoạt động, tìm mọi cách khôi phục hệ thống tổ chức của Đảng, củng cố phong trào cách mạng và giữ vững niềm tin cho cán bộ, đảng viên.
Nhờ những nỗ lực không mệt mỏi của các đồng chí lãnh đạo, trong đó có vai trò đặc biệt quan trọng của Lê Hồng Phong, hệ thống tổ chức Đảng từng bước được phục hồi. Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1935, tổ chức tại Ma Cao (Trung Quốc), đồng chí được tín nhiệm bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Trên cương vị Tổng Bí thư, Lê Hồng Phong đã có nhiều đóng góp quan trọng trong việc củng cố tổ chức Đảng, tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong nội bộ, mở rộng ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng nhân dân và tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cộng sản quốc tế đối với cách mạng Việt Nam. Dù hoạt động trong điều kiện vô cùng khó khăn và nguy hiểm, ông luôn giữ vững lập trường cách mạng, kiên định mục tiêu đấu tranh giành độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Không chỉ là một nhà lãnh đạo xuất sắc, Lê Hồng Phong còn là người cộng sản mẫu mực với lối sống giản dị, khiêm tốn và giàu tình đồng chí. Ông luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng. Tinh thần trách nhiệm, sự tận tụy và đức hy sinh của ông đã để lại nhiều tình cảm tốt đẹp trong lòng đồng chí, đồng bào.
Năm 1937, đồng chí trở về nước trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng. Tuy nhiên, trước sự theo dõi và đàn áp gắt gao của thực dân Pháp, năm 1939 ông bị bắt giam. Sau nhiều lần thẩm vấn, tra tấn và kết án, thực dân Pháp đày ông ra nhà tù Côn Đảo – nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”.
Trong lao tù, dù phải sống trong điều kiện vô cùng khắc nghiệt, thiếu thốn và thường xuyên bị tra tấn, đồng chí Lê Hồng Phong vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cộng sản. Ông luôn động viên các tù nhân chính trị đoàn kết đấu tranh, giữ vững niềm tin vào thắng lợi của cách mạng. Tinh thần kiên trung, bất khuất của ông trở thành nguồn động viên lớn lao đối với những người cùng cảnh ngộ trong nhà tù thực dân.
Do bị tra tấn, đày ải trong thời gian dài và không được chữa trị khi lâm bệnh nặng, đồng chí Lê Hồng Phong đã anh dũng hy sinh tại nhà tù Côn Đảo vào ngày 6 tháng 9 năm 1942, khi mới 40 tuổi. Sự ra đi của ông là tổn thất lớn đối với cách mạng Việt Nam, nhưng tấm gương chiến đấu và hy sinh của ông đã trở thành biểu tượng sáng ngời của lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân.
Hơn tám thập kỷ đã trôi qua, nhưng tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Lê Hồng Phong vẫn luôn được các thế hệ người Việt Nam trân trọng và ghi nhớ. Nhiều trường học, tuyến đường, cơ quan và công trình mang tên ông trên khắp cả nước như một sự tri ân đối với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Cuộc đời của đồng chí Lê Hồng Phong là minh chứng sinh động cho ý chí kiên cường, tinh thần quốc tế vô sản và lòng yêu nước nồng nàn của người chiến sĩ cộng sản. Tấm gương của ông không chỉ là niềm tự hào của quê hương Nghệ An mà còn là tài sản tinh thần quý báu của dân tộc Việt Nam.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, học tập và noi gương đồng chí Lê Hồng Phong chính là học tập bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần vượt khó, ý chí phấn đấu không ngừng và trách nhiệm đối với Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, mỗi đoàn viên, thanh niên cần tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng vẻ vang, sống có lý tưởng, có khát vọng cống hiến, tích cực học tập, lao động, sáng tạo để góp phần xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh và hạnh phúc.
Ngọn lửa cách mạng mà đồng chí Lê Hồng Phong đã thắp lên bằng cả cuộc đời mình vẫn luôn tỏa sáng trong dòng chảy lịch sử dân tộc, tiếp tục truyền cảm hứng cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau trên con đường dựng xây và bảo vệ Tổ quốc.



