Người có công giúp đỡ cách mạng

Lê Hồng Phong – Người chiến sĩ cộng sản kiên trung, ngọn đuốc bất diệt của cách mạng Việt Nam

Quảng Trị16/09/2026Đoàn xã Hưng Vũ (Xã Hưng Vũ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc đầy gian khổ và máu xương của Việt Nam, Lê Hồng Phong là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc nhất thế hệ đầu tiên của Đảng Cộng sản. Ông là vị Tổng Bí thư thứ hai của Đảng, một nhà lý luận, chiến lược quân sự tài ba, người đã hiến dâng trọn vẹn tuổi thanh xuân và mạng sống của mình cho sự nghiệp giải phóng đồng bào. Cuộc đời ông là một thiên anh hùng ca về ý chí kiên cường, lòng trung thành vô hạn với lý tưởng và khí phách hiên ngang trước họng súng quân thù.

Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh năm 1902 tại vùng đất giàu truyền thống cách mạng Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Sinh ra và lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến cuộc sống lầm than của người dân mất nước, người thanh niên trẻ tuổi đã sớm nung nấu ý chí đánh đuổi thực dân Pháp. Năm 1924, ở tuổi 22, ông quyết định rời quê hương, bí mật vượt biên giới sang Thái Lan rồi sang Quảng Châu (Trung Quốc) để tìm con đường cứu nước.

Tại Quảng Châu, bước ngoặt lớn trong cuộc đời cách mạng của ông diễn ra khi ông được gặp Nguyễn Ái Quốc (Chủ tịch Hồ Chí Minh). Được người thầy vĩ đại dìu dắt, Lê Hồng Phong tham gia vào tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và trở thành một trong những hạt giống đỏ đầu tiên của cách mạng Việt Nam. Nhận thấy tài năng thiên bẩm của ông, Nguyễn Ái Quốc đã cử ông đi học tại Trường Quân sự Hoàng Phố, sau đó tiếp tục cử sang Liên Xô học tập tại Trường Không quân Leningrat và Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản. Với học vấn uyên thâm, lý luận sắc bén và tư duy quân sự hiện đại, ông nhanh chóng trở thành một cán bộ cốt cán của phong trào cộng sản quốc tế.

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Khi cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt trong máu và lửa, cơ sở Đảng bị tổn thất nặng nề, Lê Hồng Phong đã nhận nhiệm vụ lịch sử: trở về nước khôi phục lại phong trào cách mạng. Tháng 3 năm 1935, tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng diễn ra ở Ma Cao (Trung Quốc), ông được bầu làm Tổng Bí thư. Dưới sự chèo lái của ông, hệ thống tổ chức của Đảng được phục hồi thần tốc, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân bùng cháy trở lại, chuẩn bị tiền đề cho cao trào dân chủ 1936 - 1939.

Cũng trong những năm tháng hoạt động bí mật đầy nguy hiểm ấy, ông đã gặp và kết hôn với người đồng chí, người bạn đời kiên trung Nguyễn Thị Minh Khai. Tình yêu của họ nảy nở giữa chốn lao tù và sóng gió cách mạng, trở thành một trong những biểu tượng tình yêu cao đẹp nhất của lịch sử nước nhà.

Nhận thấy sự nguy hiểm của vị Tổng Bí thư tài ba, thực dân Pháp ráo riết săn lùng ông. Năm 1939, Lê Hồng Phong bị giặc Pháp bắt giữ tại Sài Gòn. Biết ông là lãnh đạo tối cao của cách mạng, chúng dùng mọi thủ đoạn tra tấn tàn bạo nhất: từ đánh đập, dí điện đến tra tấn tinh thần. Thế nhưng, thể xác gầy gò của ông chứa đựng một tinh thần bằng thép. Suốt nhiều tháng ròng rã, giặc không thể cạy răng ông nửa lời về bí mật của Đảng. Do không đủ chứng cứ kết tội, chúng đành phải kết án ông 6 tháng tù và trục xuất về quê nhà Nghệ An để quản thúc.

Tuy nhiên, đến đầu năm 1940, ngay khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chuẩn bị bùng nổ, thực dân Pháp hoảng sợ trước tầm ảnh hưởng của ông nên đã bắt lại Lê Hồng Phong một lần nữa. Chúng quy cho ông tội danh "chịu trách nhiệm tinh thần" cho cuộc khởi nghĩa và đày ông ra Côn Đảo – nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian".

Tại Côn Đảo, thực dân Pháp quyết tâm dùng đòn thù để hủy diệt người chiến sĩ cộng sản lỗi lạc này. Chúng giam ông vào hầm đá biệt giam, bắt lao dịch khổ sai nặng nề trong tình trạng đói khát, bệnh tật không có thuốc chữa. Gần như ngày nào ông cũng phải chịu những trận đòn roi, tra tấn dã man từ cai ngục. Cơ thể ông suy kiệt nghiêm trọng, ho ra máu, nhưng ánh mắt ông chưa bao giờ tắt ngọn lửa căm thù giặc và niềm tin tất thắng vào cách mạng. Mỗi khi tỉnh lại sau những trận đòn chết đi sống lại, ông lại tranh thủ tuyên truyền lý tưởng, động viên các đồng chí trong tù giữ vững khí tiết.

Ngày 6 tháng 9 năm 1942, do vết thương bị tra tấn quá nặng cùng căn bệnh kiết lỵ tàn phá, Tổng Bí thư Lê Hồng Phong đã trút hơi thở cuối cùng tại xà phòng số 2, nhà tù Côn Đảo khi mới vừa tròn 40 tuổi – độ tuổi chín muồi nhất của một nhà lãnh đạo cách mạng. Trước lúc hy sinh, ông ghé sát tai người đồng chí nắm chặt tay và để lại lời trăn trối bất hủ, kết tinh trọn vẹn cuộc đời mình: "Chúc các đồng chí ở lại chiến đấu đến cùng. Nhờ nói lại với Đảng rằng, đến phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi vẻ vang của cách mạng!"

Cái chết của ông là một tổn thất vô cùng lớn lao cho cách mạng Việt Nam, nhưng tinh thần hy sinh oanh liệt của ông đã biến thành ngọn đuốc rực cháy, thôi thúc hàng vạn tù chính trị và đồng bào cả nước đứng lên đập tan xiềng xích thực dân trong cuộc Cách mạng Tháng Tám 3 năm sau đó. Người chiến sĩ cộng sản kiên trung Lê Hồng Phong đã ngã xuống, nhưng tên tuổi và sự nghiệp vĩ đại của ông sẽ mãi mãi trường tồn cùng non sông gấm vóc, là tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, ý chí kiên cường và lòng trung thành tuyệt đối với tổ quốc cho muôn đời con cháu mai sau.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn