Bài viết

Lê Hồng Phong - Người Cộng Sản Trí Tuệ Và Bản Lĩnh Thép

Tác giả: Nguyễn Hà Thu

Nghệ An22/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, Tổng Bí thư Lê Hồng Phong (1902 – 1942) nổi bật như một biểu tượng kiên cường của tri thức, lòng trung thành vô hạn và tinh thần hy sinh quên mình vì độc lập dân tộc. Từ một người thợ máy xứ Nghệ, ông đã vươn lên trở thành nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng và là một cán bộ quốc tế cấp cao của Quốc tế Cộng sản.

Sinh ra tại làng Nguyên Hòa, xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, từ trẻ, Lê Hồng Phong (tên thật là Lê Huy Doãn) đã sớm chứng kiến cảnh nước mất nhà tan. Sớm mang trong mình ý chí cứu quốc, năm 1924, ông bí mật sang Trung Quốc. Tại Quảng Châu, ông gặp Nguyễn Ái Quốc và trở thành một trong những hạt nhân đầu tiên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.

Khác với nhiều nhà hoạt động thời bấy giờ, Lê Hồng Phong là hình mẫu trí thức cách mạng được đào tạo bài bản toàn diện cả về quân sự lẫn lý luận chính trị. Ông được cử đi học tại Trường Quân sự Hoàng Phố (Trung Quốc), Trường Không quân Liên Xô ở Leningrad, và sau đó là Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế Cộng sản ở Mát-xcơ-va. Là phi công người Việt Nam đầu tiên, nhưng theo yêu cầu của phong trào cách mạng, ông gác lại giấc mơ chinh phục bầu trời để trở thành một nhà lý luận chính trị sắc bén và nhà tổ chức tài ba.

Đầu những năm 1930, sau khi Cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh bị thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, hệ thống tổ chức Đảng gần như vỡ vụn. Trước nguy cơ thoái trào, Lê Hồng Phong nhận nhiệm vụ lịch sử: khôi phục lại phong trào. Tháng 3 năm 1935, tại Ma Cao (Trung Quốc), ông chủ trì Đại hội đại biểu lần thứ I của Đảng và được bầu làm Tổng Bí thư. Dưới sự lãnh đạo của ông, Đảng Cộng sản Đông Dương không những không bị tiêu diệt mà còn từng bước xây dựng lại cơ sở, phục hồi niềm tin trong quần chúng.

Song song với sự nghiệp cách mạng là mối tình sắt son nhưng đầy gian truân giữa ông và người đồng chí Nguyễn Thị Minh Khai. Kết hôn năm 1935, cả hai người đều là những lãnh đạo cấp cao của Đảng. Họ chia sẻ chung lý tưởng, chung gian khổ và cả nỗi đau khi phải chia cắt. Con gái đầu lòng của họ vừa chào đời được vài tháng thì cả hai lần lượt sa vào tay giặc.

Tháng 6 năm 1939, Lê Hồng Phong bị bắt tại Sài Gòn, sau đó bị đày ra Nhà tù Côn Đảo – "địa ngục trần gian". Biết ông là lãnh đạo cấp cao, chính quyền thực dân đã dùng mọi thủ đoạn tra tấn dã man để khuất phục. Nhưng trước đòn thù khốc liệt, ông vẫn giữ vững khí tiết.

Ngày 6 tháng 9 năm 1942, trước khi trút hơi thở cuối cùng trong kiên giam Côn Đảo ở tuổi 40 vì bị kiệt sức do đòn thù, Lê Hồng Phong đã để lại lời nhắn trối bất tử cho đồng chí của mình:

"Xin chào các đồng chí! Báo cáo với Đảng, đến phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu!"

Lê Hồng Phong ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng di sản ông để lại cho cách mạng Việt Nam là vô giá. Đó là bài học về bản lĩnh vượt qua những thời điểm đen tối nhất, là trí thức phục vụ cho lý tưởng, và là minh chứng sống động nhất cho tình yêu đất nước vượt lên trên mọi hi sinh cá nhân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn