Lê Hồng Phong và Lời Thề Bất Diệt Từ Côn Đảo

Lê Hồng Phong (tên khai sinh: Lê Huy Doãn, 1902 – 1942) là một nhà cách mạng cộng sản lỗi lạc, người đã giữ chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1935–1936. Cuộc đời ông là hành trình từ một thanh niên nghèo xứ Nghệ đến vị lãnh đạo chủ chốt của Đảng, tận hiến trọn vẹn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Lê Huy Doãn sinh ngày 6 tháng 9 năm 1902 trong một gia đình nghèo tại xóm Đông Cửa, thôn Đông, xã Thông Tân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Mồ côi cha từ nhỏ, ông được mẹ nuôi dưỡng và cho theo học chữ Hán. Sau đó, ông được đổi tên thành Lê Văn Duyện.
Vì gia cảnh quá ngặt nghèo, năm 16 tuổi, ông phải đi làm công cho một hãng buôn ở Vinh, sau đó chuyển sang làm công nhân tại nhà máy diêm Bến Thủy. Chính tại đây, ông bị đuổi việc vì đã vận động công nhân đấu tranh đòi quyền lợi với giới chủ. Từ đó, ông bước hẳn vào con đường của một nhà cách mạng chuyên nghiệp.
Cuối năm 1931, với tên là Vương Nhật Dân, ông về Trung Quốc hoạt động trong bối cảnh các tổ chức cộng sản trong nước bị thực dân đàn áp dữ dội. Theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, từ năm 1932, ông cùng các đồng chí tìm cách liên lạc để khôi phục phong trào Đảng.
Thành lập Ban Chỉ huy hải ngoại: Tháng 3 năm 1934 tại Ma Cao, Ban Chỉ huy hải ngoại của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập do ông làm Thư ký (Bí thư). Ban này kiêm nhiệm vai trò Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, có nhiệm vụ quan trọng là liên lạc với Quốc tế Cộng sản, tổ chức lại công tác đào tạo cán bộ và chuẩn bị triệu tập Đại hội Đảng.
Giữ vai trò Tổng Bí thư: Trên thực tế, với cương vị Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại, ông nắm giữ vai trò Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Tại Đại hội I của Đảng ở Ma Cao vào tháng 3 năm 1935, ông được bầu chính thức làm Tổng Bí thư.
Hoạt động quốc tế: Tháng 7 năm 1935, ông dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva. Đại hội công nhận Đảng là Chi bộ chính thức của Quốc tế Cộng sản và bầu ông làm Ủy viên Ban Chấp hành của Quốc tế Cộng sản.
Chỉ đạo trong nước: Năm 1936, ông triệu tập Hội nghị Trung ương Đảng tại Thượng Hải (tháng 7/1936). Năm 1937, ông về Việt Nam hoạt động với tên La Anh và dự Hội nghị Trung ương tại Hóc Môn (3/1938) quyết định thành lập "Mặt trận Dân chủ Đông Dương".
Bà Nguyễn Thị Minh Khai, người giữ vai trò quan trọng trong Đảng ở thời kỳ đầu, cũng là vợ ông.
Ngày 22 tháng 6 năm 1939, ông bị mật thám Pháp bắt lần thứ nhất ở Sài Gòn, bị kết án tù và quản thúc. Ngày 6 tháng 2 năm 1940, ông bị bắt lần thứ hai. Sau đó, ông bị kết án 5 năm tù và 10 năm quản thúc (do không đủ chứng cứ kết án tử hình) và bị đày đi Khám Lớn Sài Gòn rồi Côn Đảo.
Trưa ngày 6 tháng 9 năm 1942, ông qua đời trong lao tù tại Côn Đảo, đúng vào ngày sinh nhật lần thứ 40 của mình.
Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông đã gửi lời nhắn nhủ lịch sử: "Xin chào tất cả các đồng chí. Nhờ các đồng chí nói với Đảng rằng: Tới giờ phút cuối cùng, Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của cách mạng".



