Lê Huy Xuân
Giữa vùng quê yên bình thôn Bà Khê (xã Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh), ít ai biết
rằng người thương binh 81 tuổi với bước chân tập tễnh lại là một pho sử sống
về những năm tháng "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước".
Ông là Lê Huy Xuân - người lính đặc công nước từng khiến đối phương khiếp sợ tại chiến
trường Quảng Nam - Đà Nẵng, với chiến công phá hủy hàng chục xe bọc thép.
Chàng trai 41kg và quyết tâm ra trận
Trong căn nhà nhỏ đơn sơ, ông Lê Huy Xuân xúc động nhắc về thời hoa lửa của mình. Năm
nay đã 81 tuổi nhưng ông vẫn nhớ như in những kỷ niệm thời trai trẻ. Năm 1963, chàng
thanh niên Lê Huy Xuân hừng hực sức trẻ viết đơn tình nguyện ra trận. Thế nhưng trong lần
khám tuyển đầu tiên ông bị loại. Lý do không đủ sức khỏe vì ông nhỏ người, chỉ nặng có 41
kg.
Không nản lòng, sang năm 1964 ông tiếp tục ứng tuyển. Đơn vị tuyển quân khi ấy nhận
định: "Người thấp bé, nhẹ cân thế này lại rất phù hợp với nhiệm vụ luồn lách, bí mật của đặc
công". Vậy là chính cái vóc dáng nhỏ bé ấy đã đưa ông trở thành một chiến sĩ đặc công tinh
nhuệ.
Tháng 10/1964, sau 3 tháng huấn luyện, ông cùng đồng đội hành quân vào chiến trường
Quảng Nam - Đà Nẵng, bắt đầu những ngày tháng chiến đấu oanh liệt tại đây. Khi đó đơn vị
đặc công chính quy chưa thành lập, ông được biên chế vào đơn vị trinh sát đặc nhiệm B12,
trực thuộc Bộ Tư lệnh Công binh. Tại đèo Hải Vân, đơn vị 120 người của ông chia làm hai
ngả: một nửa ngược lên Tây nguyên, một nửa xuôi về vùng chảo lửa Quảng Nam. Ông
Xuân nằm trong số những người về vùng Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, những nơi được
mệnh danh là "vùng đất chết" bởi bom đạn đối phương.
Những chiến công oanh liệt
Là lính đặc công, đặc biệt là đặc công nước và công binh, nhiệm vụ chính của ông Xuân và
đồng đội là đánh cầu, phá đường để cắt đứt các tuyến giao thông huyết mạch của đối
phương. Trong bóng đêm đen đặc, những người lính đặc công ngâm mình hàng giờ dưới
làn nước lạnh, bí mật áp sát chân cầu để gài mìn. Sự sống và cái chết chỉ cách nhau gang
tấc, bởi chỉ cần sơ suất gây ra một tiếng động nhỏ, hay một sai sót trong kỹ thuật kích nổ,
họ sẽ mãi mãi nằm lại dưới lòng sông.
Ông Xuân bồi hồi nhớ lại trận đánh đầu tiên vào ngày 25/2/1965. Mục tiêu là cầu Cao Lâu
trên QL1. Bằng sự mưu trí và gan dạ, ông cùng đồng đội đã đánh sập cây cầu này, gây
tiếng vang lớn, làm tê liệt tuyến giao thông huyết mạch của đối phương trong nhiều ngày.
Tiếp đó là những trận đánh vang dội khác như phá cầu Bình Long, cầu Thượng Đức.
Đặc biệt, dấu ấn sâu đậm ở chiến trường khốc liệt với ông là những chiến công phá xe bọc
thép, nơi da thịt đối đầu với sắt thép. Ông và đồng đội phải luồn sâu vào lòng địch, tiếp cận
các xe bọc thép để phá hủy. Đây là nhiệm vụ vô cùng nguy hiểm vì nếu bị đối phương phát
hiện thì chắc chắn hy sinh.
Vậy mà ông Xuân đã cùng đồng đội phá hủy tới hơn 20 xe bọc thép và tiêu diệt gần 300 lính
đối phương, trong đó có lần phá hủy hơn 10 xe, tiêu diệt 152 lính. Sau mỗi trận đánh, ông
đều được tặng bằng khen, giấy khen ghi nhận chiến công.
Với những thành tích xuất sắc, ông đã vinh dự được trao tặng Huân chương Chiến công
hạng nhì, 2 Huân chương Chiến công hạng ba và rất nhiều bằng khen, giấy khen. Ông cũng
đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh (năm 1965 -1966), Chiến sĩ thi đua toàn Quân khu 5
(năm 1967 - 1968).
Máu xương nhuộm từng tấc đất
Nhưng chiến tranh không chỉ có chiến công, mà còn là rất nhiều hy sinh. Ông Xuân ngậm
ngùi nhớ lại, đại đội của ông khi vượt Trường Sơn vào nam có hơn 100 người lính trẻ măng,
hừng hực khí thế. Vậy mà đến ngày đất nước im tiếng súng, chỉ còn khoảng hơn 20 người
trở về. Những người chỉ huy dạn dày kinh nghiệm như đại đội trưởng, chính trị viên đều đã
nằm lại mãi mãi nơi chiến trường.
Nỗi đau càng thắt lại khi ông nhắc về những người đồng hương. Cùng đi từ thôn Bà Khê
năm ấy có 8 anh em, nhưng chỉ còn 3 người trở về, trong đó ông Xuân đã để lại một phần
máu thịt nơi chiến trường. Trong một trận càn ác liệt, ông Xuân cõng một đồng đội bị
thương rút lui, đã không may vấp phải mìn, mất một phần chân trái và 3 lần phải cưa chân
do đang tuổi phát triển, xương chân cứ thế trồi ra.
Hành trình từ cõi chết trở về của ông Xuân cũng đầy khốc liệt. Cuối năm 1969, ông được
chuyển ra Bắc điều trị. Đoàn xe thương binh chở những người lính không còn lành lặn rời
xa chiến trường, nhưng bom đạn vẫn không buông tha. Khi đoàn xe đi đến Hang Đá (Quảng
Bình), máy bay đối phương phát hiện và trút bom. "Xe cháy, 40 thương binh ngồi trên xe
trúng bom hy sinh gần hết, chỉ còn vài người sống sót, trong đó có tôi", ông Xuân đau đớn
nhớ lại. Ông liên tục thấm nước mắt khi nhắc lại kỷ niệm đau thương và cho biết thế hệ
thanh niên quê ông năm ấy ra đi có rất ít người trở về, trong đó có những anh em của mình.
"Đừng bao giờ quên lịch sử"
Năm 1971, sau thời gian điều trị, ông Lê Huy Xuân phục viên trở về quê hương Bà Khê. Cơ
thể không còn lành lặn nhưng ông vẫn hăng hái tham gia công tác địa phương. Suốt 33 năm
(từ 1971 - 2004), ông làm Tổ trưởng tổ tự quản, tham gia giữ gìn an ninh trật tự cho xóm
làng. Dù thương tật hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, ông vẫn cần mẫn làm thợ mộc, làm
ruộng để lo cho con cái.
Tuy nhiên có một điều chưa trọn vẹn là do bị thất lạc nhiều giấy tờ nên ông gặp rất nhiều
khó khăn và thiệt thòi về các chế độ chính sách. Hiện ông chỉ được hưởng chế độ thương
binh hạng 3/4. Ngoài ra, một người con của ông bị chậm phát triển trí tuệ, nghi do ông
nhiễm chất độc khi tham gia chiến đấu ở chiến trường. Dẫu vậy, chưa khi nào ông đòi hỏi
chế độ, bởi với ông, việc được sống và trở về đã là may mắn hơn những đồng đội của
mình.
Khi chúng tôi hỏi ông muốn nhắn nhủ điều gì với thế hệ trẻ hôm nay, người lính già chia sẻ:
"Tôi mong thế hệ trẻ hiểu và trân trọng sự hy sinh của thế hệ cha anh. Ngày xưa chúng tôi đi
chiến trường là xác định sẵn sàng hy sinh tuổi xuân, xương máu vì đất nước, không toan
tính thiệt hơn. Lớp trẻ bây giờ được sống trong hòa bình, cần chịu khó học tập và làm việc
sao cho xứng đáng với thế hệ cha anh. Đừng bao giờ quên lịch sử, quên đi cái giá của độc
lập tự do ngày hôm nay".



