LỄ KẾT NẠP ĐẢNG TRONG LÒNG ĐẤT LỬA – MỘT DẤU ẤN THÒI HOA LỬA
LỄ KẾT NẠP ĐẢNG TRONG LÒNG ĐẤT LỬA – MỘT DẤU ẤN THÒI HOA LỬA
LỄ KẾT NẠP ĐẢNG TRONG LÒNG ĐẤT LỬA – MỘT DẤU ẤN THÒI HOA LỬA
Vào ngày 3 tháng 2 năm 1970, chiến trường vẫn chìm trong mưa bom bão đạn. Núi rừng Trị – Thiên ngày đêm rung chuyển bởi tiếng pháo, tiếng máy bay gầm rú. Giữa hoàn cảnh khốc liệt ấy, trong một căn hầm bí mật sâu dưới lòng đất, một sự kiện thiêng liêng đã diễn ra trong lặng lẽ mà xúc động: lễ kết nạp Đảng cho người lính - y tá công binh Cao Văn Nhưng.
Căn hầm nhỏ chỉ vừa đủ cho vài người ngồi sát bên nhau. Trên vách đất ẩm còn in dấu cuốc xẻng, mùi thuốc súng và mùi đất quyện vào không khí nặng trĩu. Một ngọn đèn dầu leo lét soi rõ những gương mặt sạm đen vì nắng gió, nhưng ánh mắt ai cũng sáng lên niềm tin và quyết tâm.
Thời điểm ấy, Đảng mang tên Đảng Lao động Việt Nam - ngọn cờ lãnh đạo toàn dân, toàn quân trong cuộc kháng chiến trường kỳ. Mãi đến sau Đại hội lần thứ IV, Đảng mới chính thức mang tên Đảng Cộng sản Việt Nam như ngày nay. Nhưng dù tên gọi nào, với người lính nơi tuyến lửa, Đảng vẫn là lý tưởng, là niềm tin son sắt, là kim chỉ nam cho mọi hành động.
Trong không gian chật hẹp, giữa tiếng bom vọng xa, đồng chí Thủ Trưởng trịnh trọng đọc quyết định kết nạp. Giọng nói trầm ấm, vang lên rõ ràng trong lòng đất, như tiếp thêm sức mạnh cho tất cả những người có mặt.
Khi đến giây phút tuyên thệ, ông Cao Văn Nhưng đứng nghiêm trang, bàn tay đặt lên ngực trái, nơi trái tim đang đập rộn ràng. Dưới ánh đèn mờ, gương mặt ông hiện lên vẻ xúc động, pha lẫn niềm tự hào và trách nhiệm lớn lao.
Ông cất giọng dõng dạc, tuy không lớn nhưng đầy kiên định:
“Suốt đời phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên hết…”
Từng lời thề vang lên giữa lòng đất như hòa vào nhịp đập của chiến trường. Đó không chỉ là lời hứa trước tổ chức, mà còn là lời hứa với những đồng đội đã hy sinh, với Bác Hồ kính yêu, với quê hương đang chờ ngày giải phóng.
Kết thúc buổi lễ, không có hoa, không có cờ, không có nhạc. Phần thưởng duy nhất là cái bắt tay siết chặt của đồng đội, là ánh mắt tin tưởng, là niềm tự hào âm thầm lan tỏa trong từng người lính.
Ý thức được vinh dự lớn lao ấy, ông tự nhủ phải sống và chiến đấu gương mẫu hơn nữa. Trong mọi nhiệm vụ, dù khó khăn hay nguy hiểm, ông luôn xung phong đi đầu. Khi đơn vị mở đường dưới mưa bom, ông có mặt. Khi đồng đội bị thương giữa bãi mìn, ông không ngần ngại lao ra cứu chữa. Khi thiếu thuốc men, thiếu băng gạc, ông tìm mọi cách tận dụng từng mảnh vải, từng giọt thuốc để giữ lại sự sống cho anh em.
Nhiều đồng đội vẫn còn nhớ hình ảnh người đảng viên trẻ, dáng người gầy gò, vai đeo túi cứu thương đã sờn rách, lặng lẽ băng qua làn đạn để đến bên thương binh. Có lần, giữa lúc bom rơi dày đặc, một chiến sĩ bị thương nặng nằm giữa trận địa. Không chần chừ, ông bò sát mặt đất, kéo đồng đội về hầm trú ẩn, vừa đi vừa băng bó. Khi trở về, áo ông loang lổ bùn đất và máu, nhưng ánh mắt vẫn sáng lên niềm vui vì cứu được người.
Ngay sau lễ kết nạp, ông lại khoác túi cứu thương, tiếp tục theo đơn vị ra trận. Từ giây phút ấy, trong tim ông không chỉ có tình đồng đội và tình yêu nước, mà còn có lý tưởng của người đảng viên cộng sản soi đường.
Về sau, mỗi khi nhớ lại lễ kết nạp năm xưa, ông vẫn xúc động. Giữa bom đạn khốc liệt, trong căn hầm tối ẩm, ông đã được đứng vào hàng ngũ của Đảng – một vinh dự lớn lao mà ông coi là tài sản quý giá nhất cuộc đời.
Lễ kết nạp Đảng tháng 2 năm 1970 ấy chính là một bông “hoa lửa” rực rỡ nở giữa chiến trường, minh chứng cho niềm tin bất diệt của người lính Cao Văn Nhưng vào con đường mà Đảng và dân tộc đã chọn.



