Bài viết

Lê Kiên Nhẫn(1622-1714)

Đồng Tháp20/05/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thiền sư Tánh Nhân - Thiện Châu, người khai sáng chùa Bửu Lâm có thể danh là Nguyễn Văn Nhẫn (tự Lê Kiên Nhẫn), người Trung Bộ (chưa rõ ở tỉnh nào), sinh năm Nhâm Tuất (1622) trong một gia đình nông dân nghèo, cha mẹ mất sớm, sông nương tựa vào người anh là Nguyễn Văn Lăng. Khi ông xuất gia đi tu thì người anh vào Nam lập nghiệp.

Ông là Pháp tôn của Thiền sư Minh Châu - Hương Hải, là huynh đệ với thiền sư Tánh Để - Đạo Nguyên, trụ trì chùa Thập Tháp Di Đà (Bình Định), Tánh Ban Giám Huyền, trụ trì chùa Linh Phong (Bình Định)... thuộc phái Trúc Lâm, theo bài kệ truyền pháp của Thiên sư Trí Bảng - Đột Không.

Khoảng năm 1680, thiền sư Minh Châu - Hương Hải, phái Trúc Lâm, bị chúa Hiến Nguyễn Phước Tân (1648-1687) bắt giam vì nghi ngờ có quan hệ với chúa Trịnh. Qua điều tra, xét thấy chưa đủ chứng cớ, nên được tha.

Đến năm 1682, thiên sư Minh Châu - Hương Hải cùng khoảng 50 đệ tử Trúc Lâm trốn ra Đàng Ngoài. Để tránh sự truy bức của chúa Hiển, các tăng sĩ phái Trúc Lâm còn lại ở Đàng Trong phải tìm cách mai danh ẩn tích hoặc trồn vô phía Nam. Trong khi Tánh Đề - Đạo Nguyên vào trụ trì chùa Thập Tháp (Bình Định) thuộc phái Lâm Tề để ăn thân, thì Tổ Tánh Nhân -Thiện Châu lại trồn vào phía Nam cùng với hai đệ tử là Thiện Ý và Thiên Tín. Đền Ninh Thuận, thầy trò sư Tánh Nhẫn trú ngụ, tu hành trong một hang đá hoang vắng trên núi Chà Bang (nay thuộc xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận). Một thời gian sau, nơi đây trở thành chùa Trà Cang.

Đến năm 1693, có cuộc nổi loạn của A Ban ở trần Thuận Thành, nơi ông đang ấn tu (chùa Trà Cang chỉ cách Phan Rang trên 10km). Đế tránh bị nghi ngờ, Tổ Thiện Châu giao chùa cho đệ từ Thiện Tín ở lại trụ trì, còn ông cùng đệtừ Thiện Ý tiếp tục lên đường vô Nam tìm đến nơi cư ngụ của người anh. Ông Nguyễn Văn Lãng, anh ruột của ông đã vô Nam từ trước, phá rừng khai hoang được một vạt đất phía bên kia sông Tiền.

Lúc bây giờ vùng đất giữa sông Tiến và sông Hậu có tên gọi là Tâm Phong Long đã có nhiều người Việt đến khai hoang lập nghiệp. Cuộc đất của ông Nguyễn Văn Lăng thuộc thôn Tân Đông, gắn rạch Tân Đông. Rạch này có tục danh là Cái Bế Cạn, dân gian vẫn thường gọi là Cái Bè Cạn.

Sư Thiện Châu dừng chân ở Tân Đông, dựng một cái am cạnh lạch nước nhỏ trên đất của anh mình để tu hành (nay thuộc ấp Đông Quới, xã Tân Khánh Đông, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp), lạch nước này nay vẫn còn, được gọi là Mương Chùa. Sau một thời gian, ông xuồng bè phát nguyện: để bè trôi tự nhiên, bè tập vào nơi nào đó nếu xô ra ba lần mà bè vẫn tập vào chỗ

cũ, thì sẽ dừng chân tu hành ở đó. Dân gian kể rằng ông thả bè trong một đêm tháng sáu tại rạch Vinh, có gió Nam thổi mạnh, bè trôi qua bờ phía Bắc vô ngọn rạch Cái Bảy, rồi tới rạch Cái Bèo. Cuối cùng ông dừng tích trượng ở bìa rừng mây cạnh một con rạch nhỏ quanh co, gần rạch Cái Bèo, cách xa xóm Thới Bình (sau này trở thành thôn Bình Hàng Trung - nay là xã Bình Hàng Trung, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), dựng am tre lá để tu hành, về sau thành chùa Bửu Lâm lưu truyền đền ngày nay.

Tổ Thiện Châu viên tịch vào ngày rằm tháng hai năm Giáp Ngọ, tức năm 1714, thọ 92 tuổi.

Chùa Bửu Lâm do Thiền sư Tánh Nhẫn -Thiện Châu thuộc phái Trúc Lâm phục hưng đời thứ 35, do hoàn cảnh phải câu pháp phái Lâm Tê (đời thứ 33), khai sơn ở đồng bằng sông Cửu Long ven Đồng Tháp Mười vào cuối thê kỷ XVII, là một trong những ngôi chùa cổ nhất ở Nam Bộ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn