Khác

Lê Lai

Thanh Hóa20/10/2026Xã Tân Khai (Đoàn xã Tân Khai)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Lê Lai (?-1418) là một tướng lĩnh lừng danh trong cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn, người đã hy sinh thân mình để cứu chủ tướng Lê Lợi. Hành động quả cảm "đổi áo cứu chúa" của ông được sử sách ngợi tôn là tấm gương trung liệt, ngàn năm bất hủ.

Lê Lai sinh tại thôn Dựng Tú (nay là Thôn Thành Sơn (Làng Tép), xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa). Cha ông là Lê Kiều, người nối đời làm chức phụ đạo trong vùng. Lê Lai là con thứ hai, anh trai ông là Lê Lạn.

Sử gia Lê Quý Đôn trong sách Đại Việt thông sử miêu tả Lê Lai là người có tính tình cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt.

Năm 1416, Lê Lai cùng Lê Lợi và 18 tướng lĩnh khác tham gia Hội thề Lũng Nhai, thề sống chết có nhau, nguyện chung sức đánh đuổi quân Minh xâm lược. Ông được ban tước Quan nội hầu, giữ chức tổng quản của phủ Đô tổng quản. Anh trai ông, Lê Lạn, cũng tham gia khởi nghĩa và lập được nhiều công lao.

Hành động oanh liệt nhất của Lê Lai diễn ra vào khoảng năm 1418, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gặp muôn vàn khó khăn. Các bộ sử tuy chép chi tiết có đôi chút khác biệt, nhưng đều thống nhất về tinh thần hy sinh của ông.

Bấy giờ, khi nghĩa quân Lam Sơn lực lượng còn yếu, thiếu lương, thường bị quân Minh vây đánh gắt gao. Theo Đại Việt thông sử, vào cuối tháng 1 năm 1418, Lê Lợi bị thua trận ở Mường Một, phải chạy thoát về đóng quân tại vùng Trịnh Cao hẻo lánh. Quân Minh chia quân chặn các lối hiểm yếu, bao vây chặt chẽ, tình thế vô cùng cấp bách.

Để cứu nguy cho toàn quân và chủ tướng, Lê Lợi đã họp các tướng và hỏi xem ai có thể đóng giả ông để đánh lạc hướng kẻ địch. Lê Lợi viện dẫn gương Kỷ Tín đời Hán, hỏi:

“Ai có thể thay thân khoác hoàng bào, lĩnh năm trăm quân, hai thớt voi, đánh vào trại giặc khiêu chiến, tự xưng là chủ Lam Sơn để cho giặc bắt? Cho trẫm được náu mình, nghỉ binh, thu họp quân sĩ để mưu tính việc về sau!"

Trong khi các tướng khác im lặng, Lê Lai đã đứng dậy tình nguyện: "Thần bằng lòng xin thay mặc áo chủ công. Ngày sau Bệ Hạ gây nên đế nghiệp, có được thiên hạ, thương đến thần tử, cho con cháu muôn đời được chịu ơn nước. Đó là điều thần mong mỏi!"

Quá cảm động, Lê Lợi đã lạy Trời mà khấn rằng: "Lê Lai có công đổi áo. Sau này trẫm cùng con cháu, các tướng tá, hay con cháu các công thần, nếu không thương đến công ấy, thì xin đền đài hóa ra rừng núi; ấn vàng hóa ra đồng sắt; gươm thần hóa ra đao binh!". Sau khi cúng khấn, Lê Lai khoác hoàng bào, dẫn 2 con voi và 500 quân kéo thẳng tới trại giặc khiêu chiến.

Ông phi vào giữa trận tiền hô lớn: "Ta đây là chủ Lam Sơn!". Quân Minh ngỡ là Lê Lợi thật, bèn xúm lại vây bắt. Lê Lai chiến đấu anh dũng nhưng cuối cùng kiệt sức và bị giặc bắt. Theo Đại Việt thông sử, ông bị đem hành hình vào ngày 29 tháng 4 (âm lịch).

Nhờ sự hy sinh của Lê Lai, quân Minh tưởng đã bắt được chủ tướng nên sơ hở trong việc phòng bị. Nhờ đó, Lê Lợi và nghĩa quân mới có thời cơ nghỉ ngơi, củng cố lực lượng để sau này trăm trận trăm thắng, giành lại độc lập cho đất nước. Sau khi Lê Lai hy sinh, Lê Lợi ngầm sai người tìm di hài đem về Lam Sơn mai táng.

• Năm 1428, khi lên ngôi, vua Lê Thái Tổ phong Lê Lai là Công thần hạng nhất, tặng tước Suy trung Đồng đức Hiệp mưu Bảo chính Lũng Nhai công thần, hàm Thiếu úy, thụy là Toàn Nghĩa.

Về sau, ông tiếp tục được các đời vua Lê gia phong các tước vị cao quý khác như: Thái úy (1429), Bình Chương quốc quân trọng sự (1443), Diên Phúc Hầu (1470), Thái úy Phúc Quốc Công (1484), và cuối cùng là Trung Túc Vương.

• Trước khi mất vào năm 1433, Lê Thái Tổ dặn lại đời sau phải làm giỗ Lê Lai trước một ngày (tức 21 tháng 8 âm lịch), rồi mới làm giỗ vua (22 tháng

😎

. Từ đó dân gian có câu: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi".

• Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, con cháu Lê Lai được nhà nước cấp ruộng để tế tự. Ngay cả khi triều đình có chính sách giảm lộc điền, số ruộng cấp cho con cháu Lê Lai (100 mẫu) vẫn được giữ nguyên.

Cả gia đình Lê Lai đều cống hiến hết mình cho sự nghiệp cứu nước:

• Anh trai: Lê Lạn tử trận khi tham gia đánh ải Khả Lưu năm 1425, được phong tặng Hiệp Quận Công, hàm Thái phó.

• Ba con trai: Đều được Lê Lợi nuôi như con đẻ và đều hy sinh trên chiến trường:

1. Lê Lư: Tử trận khi vây thành Nghệ An năm 1425, tặng tước Kiến quận công.

2. Lê Lộ: Giữ chức Tả trung quân tổng đốc, tử trận năm 1424, tặng hàm Thái úy, sau gia tặng Chiêu quận công.

3. Lê Lâm: Một trong những Lũng nhai công thần, tử trận năm 1430 khi đi đánh Ai Lao, tặng hàm Thiếu úy. Con của Lê Lâm là Lê Niệm về sau là trọng quan triều đình, gia phong Trung quốc công.

Sách Võ tướng Thanh Hoá trong lịch sử dân tộc nêu ra một số nghi vấn về những nhân vật khác cũng có tên Lê Lai sống cùng thời:

• Lam Sơn thực lục tục biên đề cập đến Nguyễn Thận (người Mục Sơn), công thần khởi nghĩa, được đổi họ Lê và tên Lai, vẫn hoạt động sau khi một Lê Lai khác đã liều mình cứu chúa.

• Văn bia ở Quỳnh Lưu (Nghệ An) cũng nhắc đến một công thần tên Lê Lai.

• Đại Việt sử ký toàn thư (quyển 10) có chép: "Ngày 13 tháng 1 năm Đinh Mùi (1427) giết Tư mã Lê Lai, tịch biên gia sản vì Lai cậy có chiến công nên nói năng khinh mạn". Đại Việt sử ký toàn thư không chép việc Lê Lai liều mình cứu chúa.

Tên tuổi Lê Lai được đặt cho nhiều con đường và trường học trên khắp cả nước. Đền thờ Lê Lai (Đền Tép)thuộc làng Tép (Thôn Thành Sơn), xã Kiên Thọ, Ngọc Lặc, Thanh Hóa, cách khu di tích Lam Kinh 5 km. Đền đã được công nhận là di tích quốc gia. Hàng năm, địa phương tổ chức lễ hội vào ngày 8 tháng Giêng và 21/8 âm lịch.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Lê Lai | Câu chuyện thời hoa lửa