LÊ LIÊM CHỦ NHIỆM CHÍNH TRỊ
Lê Liêm sinh năm 1922, tên thật là Trịnh Đình Huấn, người huyện Thường Tín, Hà Đông (nay là Hà Nội). Trước năm 1945, ông hoạt động ở tỉnh Phúc Yên, từng bị tù ở Sơn La, được cử làm ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Năm 1945, cùng với các đồng chí Nguyễn Văn Kha, Nguyễn Đức Quỳ, ông tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở Hải Dương.
| Ông từng đảm nhận các trọng trách: ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, đã giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam thời kỳ mới thành lập, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Phủ Thủ tướng, Thứ trưởng Bộ Giáo dục Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong những ngày đầu kháng chiến chống Pháp, ông chủ yếu hoạt động công tác chính trị trong quân đội. Ông làm Chính trị uỷ viên trong uỷ ban Kháng chiến chiến Khu 1. Năm 1947, ông làm Phó phòng dân quân (sau là Cục phó Cục Dân quân) Bộ tổng chỉ huy. Năm 1948, ông được bổ nhiệm Cục trưởng Cục Dân quân thay ông Khuất Duy Tiến. Ngày 18/10/1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 116, cử ông Lê Liêm, Cục trưởng Cục Dân quân kiêm chức Cục trưởng Cục Chính trị thay Thiếu tướng Văn Tiến Dũng cũ giữ chức vụ khác. Ông cũng là Chủ nhiệm đầu tiên của Báo Quân đội Nhân dân. ủy viên Bộ chỉ huy chiến dịch Biên giới năm 1950. Năm 1950, khi Cục Chính trị được nâng lên thành Tổng cục Chính trị trực thuộc Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Quốc gia và dân quân Việt Nam, ông được cử làm Cục trưởng Cục Tuyên huấn, sau đó là Phó Chủ nhiệm Tổng cục. Chủ nhiệm là ông Nguyễn Chí Thanh. Năm 1954, ông là Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Chủ nhiệm Chính trị Mặt trận Điện Biên Phủ. Tại Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ ở Mường Phăng, lán - hầm của đồng chí Lê Liêm nằm ngay sau lán - hầm của Đoàn cố vấn quân sự Trung Quốc. Ngày nay, căn lán đơn sơ giữa những thân cây cao lớn, tỏa bóng mát đã được phục dựng gần như nguyên trạng. Chiếc giường đơn, bàn làm việc bằng tre như vẫn ẩn hiện bóng dáng đồng chí trong những ngày tháng ác liệt nhất của chiến dịch Điện Biên Phủ. Ngay bên cạnh lán là hầm tránh trú bom đạn, sâu hơn 10m, cuối hầm đặt một chiếc bàn nhỏ. Trước khi đến Mường Phăng, sở chỉ huy chiến dịch đã đặt ở nhiều điểm, trong đó có hang Huổi He, nơi do chính ông đề nghị và được lựa chọn. Hang Huổi He theo tiếng địa phương là Huổi Hẹ, nghĩa là dòng suối hai bên có nhiều tre, nứa. Sau năm 1954, ông chuyển sang lĩnh vực dân sự trước khi có đợt phong quân hàm năm 1958. Ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Văn hóa phụ trách điện ảnh, Bí thư Đảng đoàn Bộ dưới thời Bộ trưởng Hoàng Minh Giám. Ông kiêm chức Hiệu trưởng Trường Lý luận nghiệp vụ (thuộc Bộ Văn hóa, nay là Trường Đại học Văn hóa) trong thời gian 1959 -1960. Năm 1960, tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III, ông được bầu làm ủy viên Dự khuyết Ban chấp hành Trung ương. Tháng 1/1963 ông giữ chức Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Phủ Thủ tướng thay ông Tố Hữu, đến tháng 10/1965 thì ông Trần Quang Huy kế nhiệm. Năm 1965, ông làm Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam, Bí thư đảng đoàn Bộ, Chánh Thư ký Công đoàn Giáo dục Việt Nam kiêm Hiệu trưởng Trường Chính trị Bộ Giáo dục. Năm 1964 khi đồng chí Nguyễn Vãn Trỗi hy sinh, ông làm bài ca Nguyễn Văn Trỗi: Bài ca anh Nguyễn Văn Trỗi Anh Nguyễn Văn Trỗi anh hùng chiến đấu miền Nam. Sớm nay anh nằm dưới nệm cỏ dáng yên lành. Hoa lá bay trên trời cao lộng gió. Anh nghỉ ở nơi dây hương phấn bay quyện với mây trời. Sáng soi đời sau. Với đất nước, dân thương yêu, sống muôn đời trong hoa tươi thắm. Với đất nước, dân thương yêu, hiến thân mình cho dân cho nước. Sống mãi mãi, trong muôn dân, sống trong muôn lòng, thắm tình, toàn dân thương nhớ: anh Nguyễn Vãn Trỗi. Gió vẫn rít, mưa tuôn rơi. Với dân mình tham gia chiến đấu, súng nắm chắc, vai chen vai, thấm tươi anh em tương thân tương ái, chống đế quốc bên dân ta, có bao nhiêu người dốc lòng: Vê-nê-duy-ê-la, đang dấu tranh bên nhau. Anh Nguyễn Văn Trỗi hoa hồng tươi thắm Việt Nam. Tiếc thay không ngờ anh chịu phải lưới quân thù. Anh hiến dâng thân mình cho Tổ quốc. Gắng chịu dựng gian lao nêu tấm gương bừng sáng trong đấu tranh cho dân mình. Ánh dương bừng lên! Với tiếng thét, anh hiên ngang, khiến quân thù hoang mang đau đớn. Với tiếng thét, anh hô vang: “Nhớ đây Việt nam ta đang chiến thắng.” Tiến với trước, chân kiêu hãnh, mắt anh căm thù, oán hờn, đời anh thêm tươi sáng, trong đấu tranh gian lao. |



