LÊ MINH CHIẾN – NGƯỜI LÍNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ VÀ KÝ ỨC NƠI "LỬA THÉP" U MINH
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, vùng đất U Minh (Kiên Giang) được biết đến như một "địa chỉ đỏ" cách mạng, nơi chịu đựng biết bao mưa bom bão đạn nhưng vẫn kiên cường đứng vững. Góp phần làm nên những trang sử oai hùng ấy là sự hy sinh, cống hiến của biết bao thế hệ người con ưu tú. Một trong những nhân chứng sống, người đã đi qua những năm tháng thanh xuân khốc liệt nhất trên mảnh đất này chính là cựu chiến binh Lê Minh Chiến.

LÊ MINH CHIẾN – NGƯỜI LÍNH BỘ ĐỘI CỤ HỒ VÀ KÝ ỨC NƠI "LỬA THÉP" U MINH
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, vùng đất U Minh (Kiên Giang) được biết đến như một "địa chỉ đỏ" cách mạng, nơi chịu đựng biết bao mưa bom bão đạn nhưng vẫn kiên cường đứng vững. Góp phần làm nên những trang sử oai hùng ấy là sự hy sinh, cống hiến của biết bao thế hệ người con ưu tú. Một trong những nhân chứng sống, người đã đi qua những năm tháng thanh xuân khốc liệt nhất trên mảnh đất này chính là cựu chiến binh Lê Minh Chiến.
Cựu chiến binh Lê Minh Chiến năm nay đã bước sang tuổi 74. Nhìn vóc dáng kiên trung và ánh mắt tinh anh của ông, ít ai biết rằng ông từng là một chiến sĩ trinh sát tinh nhuệ thuộc quân tình báo Tỉnh đội Kiên Giang. Sau ngày đất nước hòa bình, bằng năng lực và sự tín nhiệm của nhân dân, ông tiếp tục cống hiến cho quê hương và từng giữ chức vụ Bí thư Huyện ủy An Biên, tỉnh Kiên Giang.
Ngược dòng thời gian về những năm tháng chiến tranh, ông Lê Minh Chiến tham gia cách mạng từ năm 1969 – giai đoạn cuộc kháng chiến bước vào thời kỳ cam go và ác liệt nhất. Với tư cách là một chiến sĩ bộ đội trinh sát quân tình báo, nhiệm vụ của ông vô cùng nguy hiểm và hệ trọng: dẫn đường, chuyển các đoàn quân từ Campuchia về vùng căn cứ địa U Minh; bảo vệ an toàn tuyệt đối cho Tỉnh đội; đồng thời phải liên tục bám sát địa bàn, nắm chắc tình hình biến động của địch và sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống. Công việc trinh sát đòi hỏi sự mưu trí, dũng cảm và một tinh thần thép, bởi chỉ một sơ suất nhỏ cũng có thể ảnh hưởng đến xương máu của đồng đội và bí mật của tổ chức.
Năm 1969, cục diện chiến trường có nhiều thay đổi, quân ta có chủ trương chủ động rút về các căn cứ phòng thủ để bảo toàn và phát triển lực lượng. Nhận diện được tầm quan trọng của vùng căn cứ U Minh, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã tập trung lực lượng hòng xóa sổ cơ quan đầu não của ta.
Từ năm 1969 đến năm 1972, địch điên cuồng đánh phá ác liệt ở khắp các nơi. Chúng triển khai hàng loạt chiến thuật, chiến dịch quy mô lớn như "trực thăng vận", áp dụng chiến lược "Chiến tranh cục bộ" rồi chuyển sang "Việt Nam hóa chiến tranh". Để cô lập cách mạng, địch thực hiện chính sách vô cùng tàn bạo: dồn dân ra khỏi ruộng vườn, ép vào trong các "ấp chiến lược", các chi khu, đồn bốt xung quanh căn cứ nhằm dễ dàng kiểm soát, tấn công và uy hiếp quân đội ta.
Đỉnh điểm của sự tàn khốc là khi kẻ thù hung hãn tuyên bố quyết tâm sẽ “nhổ cỏ U Minh”. Trong suốt thời gian này, bầu trời U Minh không lúc nào ngớt tiếng gầm rú của máy bay. Địch điên cuồng thả hàng vạn tấn bom, rải chất độc hóa học hủy diệt màu xanh của rừng già nhằm làm mất nơi ẩn rẫy, giết hại lực lượng cách mạng và triệt hạ nguồn sống của quân dân ta. Sống và chiến đấu giữa làn mưa bom bão đạn, giữa chất độc hóa học bủa vây, ông Lê Minh Chiến cùng các đồng đội vẫn kiên cường bám đất, bám rừng, giữ vững mạch máu thông tin liên lạc tình báo để kịp thời phục vụ cho các phương án tác chiến của Tỉnh đội.



