Lê Minh Đức - Người lính đặc công và những năm tháng không quên
Có những năm tháng của cuộc đời dù đã đi qua rất lâu nhưng mỗi khi nhắc lại, ký ức vẫn như còn nguyên vẹn. Đó là những năm tháng tuổi trẻ của một thế hệ đã rời quê hương, khoác lên mình màu áo lính, đi đến những nơi chiến tranh ác liệt nhất và gửi lại nơi ấy một phần tuổi xuân của mình.
Trong câu chuyện về những người con quê hương Quan Nội, nay thuộc phường Nguyệt Viên, ông Lê Minh Đức là một người lính như thế. Mười năm trong quân ngũ, tham gia chiến đấu tại chiến trường miền Nam, ông đã trải qua những thử thách khắc nghiệt của chiến tranh, mang trên mình thương tích và trở về quê hương với những dấu ấn không thể phai mờ của một thời “hoa lửa”.
Mười năm tuổi trẻ trong màu áo lính
Ông Lê Minh Đức sinh năm 1946. Lớn lên trong những năm đất nước còn nhiều biến động, chiến tranh đặt lên vai thế hệ thanh niên khi ấy trách nhiệm lớn lao đối với quê hương, Tổ quốc.
Năm 1968, khi tuổi đời còn rất trẻ, ông lên đường nhập ngũ.
Khác với nhiều người lính thuộc các lực lượng thông thường, ông được biên chế vào lực lượng đặc công – một lực lượng chiến đấu đặc biệt, đòi hỏi người chiến sĩ phải có bản lĩnh, ý chí, sự gan dạ, khả năng chịu đựng gian khổ và tinh thần kỷ luật cao.
Từ quê hương, ông cùng đồng đội lên đường vào chiến trường miền Nam.
Những năm tháng ấy, chiến trường là nơi sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong gang tấc. Người lính đặc công thường phải thực hiện nhiệm vụ trong những điều kiện đặc biệt khó khăn, đối mặt với hiểm nguy và đòi hỏi sự bình tĩnh, quyết đoán trong từng nhiệm vụ.
Tuổi trẻ của ông Lê Minh Đức vì thế không được tính bằng những ngày tháng bình yên bên gia đình, mà được ghi dấu bằng những năm tháng huấn luyện, hành quân, chiến đấu cùng đồng đội.
Người chiến sĩ đặc công giữa chiến trường miền Nam
Trong quá trình phục vụ quân đội, ông Lê Minh Đức từng bước trưởng thành và được giao nhiệm vụ Trung đội trưởng, mang quân hàm Thiếu úy.
Từ một thanh niên rời quê hương năm 1968, ông đã trở thành người cán bộ chỉ huy trực tiếp cùng đồng đội thực hiện nhiệm vụ nơi chiến trường.
Đằng sau quân hàm và chức vụ ấy là cả một quá trình rèn luyện, phấn đấu trong môi trường quân ngũ và những thử thách của chiến tranh.
Năm 1972, ngay tại đơn vị, ông được kết nạp vào Đảng.
Đó là một dấu mốc đặc biệt trong cuộc đời người lính. Giữa chiến trường, được đứng trong hàng ngũ của Đảng vừa là niềm vinh dự, vừa là trách nhiệm để người chiến sĩ tiếp tục rèn luyện, giữ vững bản lĩnh và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Nhưng chiến tranh không bao giờ chỉ có những câu chuyện về chiến công. Đằng sau mỗi nhiệm vụ là những mất mát, hy sinh và những vết thương mà người lính có thể phải mang theo suốt cuộc đời.
Trong quá trình tham gia chiến đấu, ông Lê Minh Đức đã bị thương.
Vết thương trở thành dấu tích của những năm tháng chiến đấu nơi chiến trường miền Nam. Sau này, ông được hưởng chế độ thương binh.
Đó là một phần ký ức mà có lẽ không người lính nào muốn nhắc lại nhiều, nhưng lại là điều không thể tách rời khỏi cuộc đời họ. Bởi mỗi vết thương trên cơ thể đều gắn với một thời điểm, một nhiệm vụ và những năm tháng mà họ đã đặt mình vào hiểm nguy vì nhiệm vụ chung.
Những phần thưởng ghi dấu một thời tuổi trẻ
Những năm tháng cống hiến trong quân ngũ của ông Lê Minh Đức đã được Nhà nước ghi nhận bằng 4 Huân, Huy chương.
Những phần thưởng ấy không chỉ là sự ghi nhận về thành tích, mà còn là những dấu mốc của một chặng đường tuổi trẻ ông đã dành cho quân đội và Tổ quốc.
Nhìn lại hành trình ấy, có thể thấy một chàng trai quê Quan Nội năm nào đã dành trọn 10 năm tuổi trẻ trong quân ngũ, từ năm 1968 đến năm 1978.
Mười năm – một khoảng thời gian không ngắn trong cuộc đời một con người.
Đó là mười năm của tuổi thanh xuân, của những năm tháng đáng lẽ có thể dành cho gia đình, cho cuộc sống riêng, nhưng ông và những người cùng thế hệ đã lựa chọn con đường lên đường chiến đấu.
Ngày trở về
Năm 1978, sau 10 năm phục vụ trong quân đội, ông Lê Minh Đức xuất ngũ với quân hàm Thiếu úy, chức vụ Trung đội trưởng.
Sau những năm tháng chiến đấu tại chiến trường miền Nam, ông trở về quê hương và sinh sống tại phố Quan Nội, phường Nguyệt Viên.
Người lính đặc công năm nào trở lại cuộc sống đời thường.
Không còn tiếng súng, không còn những cuộc hành quân, những nhiệm vụ nơi chiến trường; cuộc sống của ông trở về với gia đình, quê hương và những công việc bình dị.
Nhưng chiến tranh vẫn để lại dấu ấn trong cuộc đời ông qua những ký ức của một thời quân ngũ và thương tích mà ông mang theo.
Có lẽ với những người đã từng đi qua chiến tranh, hòa bình không bao giờ là điều bình thường. Họ hiểu giá trị của hai chữ “bình yên” bằng chính những gì mình đã trải qua.



