Cựu chiến binh

LÊ MINH ĐỨC - NHỮNG NĂM THÁNG GIAN KHÓ

Một viên đá nằm lâu dưới dòng nước thường không còn những cạnh sắc như ban đầu. Năm tháng cũng làm con người như thế. Những xao động của tuổi trẻ dần được mài thành sự điềm tĩnh, những nỗi khó khăn từng tưởng rất lớn rồi cũng lắng xuống. Nhưng phần cốt lõi vẫn còn: tình cảm dành cho quê hương, sự trân trọng những người đã từng đi cùng và ý thức rằng mình đã có một quãng đời sống giữa những biến động lớn của đất nước.

Thanh Hóa16/09/2026Xã Thiệu Hóa (Xã Thiệu Hóa)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngưỡng cửa của tuổi hai mươi thường mở ra rất nhiều hướng: có người bắt đầu một nghề, có người nghĩ đến chuyện dựng xây cuộc sống riêng, có người còn đang dò tìm con đường mình sẽ đi. Với thế hệ chúng tôi, phía trước còn có một hướng khác – hướng về hàng ngũ quân đội trong khi đất nước vẫn chia cắt. Tôi là Lê Minh Đức, sinh năm 1943, quê Thiệu Hóa. Quãng quân ngũ của tôi bắt đầu từ năm 1963, khi tôi khoảng hai mươi tuổi, gắn với Sư đoàn 305 trong vai trò một chiến sĩ, và kéo dài đến năm 1969. Sáu năm ấy đi qua đúng vào lúc tình hình đất nước chuyển biến mạnh mẽ: từ những năm miền Bắc đang xây dựng trong hòa bình tương đối sang giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ ngày càng quyết liệt. Một thanh niên bước vào quân đội ở đầu chặng ấy không thể biết trước hết những gì mình sẽ chứng kiến, chỉ hiểu rằng đây là thời điểm tuổi trẻ không thể chỉ sống cho những dự định của riêng mình.

Năm 1963, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã lùi lại gần một thập kỷ. Miền Bắc bước vào công cuộc xây dựng xã hội mới trong điều kiện đất nước vẫn bị chia cắt, còn tình hình ở miền Nam ngày càng căng thẳng. Những năm ấy chưa phải toàn bộ miền Bắc đã sống trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt như từ năm 1965 trở đi, nhưng cảm thức về sự chưa trọn vẹn của non sông thì luôn hiện hữu. Tôi lớn lên trong hoàn cảnh như vậy. Những câu chuyện về đất nước, về thống nhất, về trách nhiệm của thanh niên không phải những điều đứng ngoài đời sống. Chúng len vào suy nghĩ của mỗi người trẻ một cách tự nhiên. Bởi thế, ngày bước vào quân ngũ, tôi không thấy mình đang trở thành một nhân vật đặc biệt. Tôi chỉ là một người con của Thiệu Hóa bước vào hàng ngũ như nhiều thanh niên cùng thời, mang theo sức trẻ và một niềm tin giản dị rằng đất nước rồi sẽ có ngày liền một dải.

Rời quê hương ở tuổi hai mươi, lòng người không thể không có những xao động. Cái khó của phút chia xa đôi khi không nằm ở một lời từ biệt mà ở việc nhận ra từ đây mình sẽ phải tự đứng vững ở một nơi khác, trong một nếp sống khác. Quê nhà vẫn ở phía sau với những người thân thuộc, còn phía trước là môi trường quân đội, nơi bản thân phải học lại nhiều điều từ đầu. Nhưng càng xa, tôi càng hiểu nỗi nhớ cũng có thể trở thành một sức mạnh. Khi nhớ Thiệu Hóa, tôi không chỉ nhớ một nơi mình sinh ra; tôi nhớ lý do vì sao người ta cần hòa bình, vì sao đất nước cần thống nhất. Bởi sau những khái niệm lớn lao ấy chính là mong ước rất bình thường: để con người được ở gần người thân, được dựng xây cuộc sống mà không bị chiến tranh chia cắt. Chính từ những suy nghĩ ấy, một người lính trẻ bắt đầu bước sâu hơn vào sáu năm quân ngũ.

Trong hàng ngũ Sư đoàn 305

Quãng đời phục vụ của tôi gắn với Sư đoàn 305, với tư cách một chiến sĩ. Hai chữ “chiến sĩ” nghe giản dị nhưng đối với tôi chứa đựng cả một nếp sống. Đó là những năm phải biết đặt mình trong tập thể, biết tôn trọng nguyên tắc và hiểu rằng quân đội không thể vận hành theo ý thích của từng người. Mỗi người đều có tính cách riêng, nhưng khi đã đứng trong hàng ngũ thì phải biết tự điều chỉnh. Một thanh niên mới ngoài hai mươi bước vào môi trường ấy không thể trưởng thành chỉ sau một vài ngày. Sự thay đổi đến chậm, qua những việc lặp lại, qua cách con người học kiềm chế sự nóng vội, biết lắng nghe và biết giữ sự nghiêm túc ngay cả khi tâm trạng không thuận. Đó là thứ trưởng thành không dễ nhìn thấy ngay, nhưng một khi đã hình thành thì theo con người rất lâu.

Từ năm 1963 đến những năm sau đó, hoàn cảnh đất nước thay đổi nhanh chóng. Đặc biệt từ năm 1965, chiến tranh mở rộng ra miền Bắc, cuộc kháng chiến chống Mỹ bước sang một giai đoạn quyết liệt hơn. Là một người đang ở trong quân đội, tôi cảm nhận được sự thay đổi ấy qua chính nhịp sống chung của thời đại. Tuy vậy, những nhiệm vụ hay địa bàn hoạt động cụ thể của cá nhân không phải điều có thể tự suy diễn ngoài những dữ liệu đã được xác nhận. Điều chắc chắn có thể nói là trong những năm đất nước đứng trước thử thách lớn, người chiến sĩ càng phải biết giữ nề nếp, ý chí và sự bình tĩnh. Hoàn cảnh càng nhiều biến động, con người càng không thể tùy tiện với vị trí của mình. Đó là bài học mà sáu năm trong hàng ngũ để lại rất sâu trong tôi.

Tôi cũng dần hiểu rằng trong một lực lượng lớn, không phải ai cũng cần có một câu chuyện nổi bật mới làm nên giá trị. Người chiến sĩ bình thường sống nghiêm túc với phần mình cũng đã góp một phần vào sức mạnh chung. Chính nhận thức ấy khiến tôi không còn nhìn việc quân ngũ bằng suy nghĩ của tuổi trẻ rằng điều gì lớn mới đáng kể. Có những ngày chẳng có gì để sau này kể thành một sự kiện, nhưng chính những ngày như thế mới rèn nên con người. Hôm nay giữ được nề nếp, ngày mai tiếp tục giữ; hôm nay biết nghĩ đến tập thể, ngày mai vẫn không buông lỏng. Qua năm tháng, những việc nhỏ ấy trở thành một nền tảng tinh thần, để con người có thể đứng vững hơn giữa một thời kỳ mà tương lai của đất nước vẫn còn rất nhiều điều chưa thể biết trước.

Đồng đội – những người làm năm tháng bớt dài

Nếu chỉ có kỷ luật mà thiếu tình người, quân ngũ sẽ là một ký ức rất khác. Với tôi, đồng đội chính là phần làm sáu năm ấy trở nên gần gũi. Chúng tôi là những thanh niên đến từ nhiều nơi, mỗi người có một gia đình để nhớ, một miền quê để hướng về. Có người cởi mở, có người trầm tính; có người dễ nói nỗi lòng, có người giữ mọi thứ bên trong. Nhưng sống cạnh nhau lâu ngày, những khoảng cách ban đầu dần ngắn lại. Người ta học cách nhận ra tâm trạng của nhau không chỉ qua lời nói. Một người bỗng ít nói hơn, một người lặng đi sau một ngày dài – đôi khi những người bên cạnh cũng hiểu rằng phía sau sự im lặng ấy là nỗi nhớ nhà hay một điều riêng chưa thể sẻ chia.

Tình đồng đội vì thế được tạo nên từ rất nhiều điều nhỏ bé. Đó có thể là cách người ta biết nhường nhau khi cần, biết giữ lời, biết không để một người cảm thấy mình đứng ngoài tập thể. Trong những năm tháng đất nước còn chiến tranh, sự gắn bó ấy mang một ý nghĩa đặc biệt. Nó giúp người lính hiểu rằng mình không một mình đối diện với những khó khăn của tuổi trẻ. Người bên cạnh cũng có nỗi nhớ như mình, cũng có một tương lai mong đợi, cũng có lúc lòng chùng xuống. Khi thấy họ vẫn tiếp tục giữ sự vững vàng, bản thân mình cũng được nâng đỡ. Tập thể không làm mất đi những tình cảm riêng; ngược lại, chính trong tập thể, chúng tôi học cách trân trọng hơn những điều rất con người của nhau.

Sau này, càng nhiều tuổi tôi càng thấy đồng đội còn là những người giữ một phần tuổi trẻ của mình. Có những khuôn mặt ngoài đời đã thay đổi theo năm tháng, nhưng khi hiện về trong ký ức vẫn mang nét của tuổi hai mươi. Mỗi lần nghĩ đến họ, tôi cũng gặp lại chính mình của thời còn là chiến sĩ Sư đoàn 305 – còn trẻ, còn những băn khoăn về tương lai, nhưng đã bắt đầu hiểu giá trị của sự bền bỉ và nghĩa tình. Đó là điều thời gian rất khó lấy đi. Một quãng đời có thể kết thúc, một đơn vị có thể trở thành một tên gọi trong hồ sơ cũ, nhưng cảm giác đã từng đứng bên những người cùng mình đi qua thời tuổi trẻ thì vẫn còn nguyên một sức ấm đặc biệt.

Từ những năm xây dựng hòa bình đến giữa cuộc chiến

Sáu năm từ 1963 đến 1969 đưa tôi qua hai trạng thái rất khác của miền Bắc. Khi tôi nhập ngũ, miền Bắc đang xây dựng trong hòa bình tương đối dù đất nước còn chia cắt. Khi tôi còn trong quân đội, chiến tranh đã mở rộng và đời sống chung bước vào những năm tháng khắc nghiệt hơn. Người hôm nay có thể nhìn lại các mốc ấy bằng kiến thức lịch sử đầy đủ, nhưng người trong cuộc lúc ấy không được biết trước đoạn cuối. Chúng tôi không biết cuộc chiến còn kéo dài bao lâu, cũng chưa thể hình dung phải đến năm 1975 đất nước mới thống nhất. Chính sự không biết trước ấy khiến tôi càng hiểu giá trị của lòng kiên trì. Con người vẫn phải sống và làm phần của mình ngay cả khi chưa nhìn thấy ngày mọi thử thách chấm dứt.

Đối với một người trẻ, sáu năm trong quân ngũ còn là sáu năm mà những ước mơ riêng phải biết đứng cạnh hoàn cảnh chung. Tôi cũng từng nghĩ về đời sống sau này, về ngày được trở lại quê nhà, về những điều bình thường mà tuổi trẻ nào cũng mong muốn. Nhưng trong chiến tranh, người ta phải tập cách chờ đợi. Không phải từ bỏ ước mơ, mà là biết chưa thể đặt ước mơ của riêng mình lên trước tất cả. Chính sự chờ đợi ấy khiến con người hiểu hơn giá trị của điều mình mong. Khi một người từng đi qua những năm đất nước chưa yên, họ sẽ biết một cuộc sống bình thường không hề tầm thường. Được sống cạnh gia đình, được làm việc và nghĩ về tương lai mà không bị tiếng súng chen vào – đó là những điều tưởng nhỏ nhưng chứa cả ý nghĩa của hòa bình.

Đến năm 1969, tôi rời quân ngũ khi khoảng hai mươi sáu tuổi. Chiến tranh khi ấy vẫn còn tiếp tục; đất nước vẫn còn phải đi thêm một chặng dài mới đến ngày thống nhất. Vì thế, ngày xuất ngũ của tôi không phải dấu chấm hết cho hoàn cảnh mà cả dân tộc đang trải qua. Tôi trở lại đời thường trong khi nhiều đồng đội và nhiều lớp thanh niên khác vẫn tiếp tục ở trong hàng ngũ. Điều ấy khiến tôi hiểu mỗi người chỉ có thể góp một đoạn đời của mình vào hành trình chung. Sáu năm đã đủ để tôi rời quân đội với một cách nhìn khác: biết quý sự yên ổn hơn, bớt nóng vội hơn trước khó khăn và hiểu rằng nhiều giá trị của con người chỉ được nhận ra khi đã được thử thách qua một thời gian dài.

Một lời khắc ghi dành cho người chiến sĩ bình thường

Khi năm tháng đã đi xa, tôi không nghĩ cần phải làm cho quá khứ lớn hơn chính nó. Người chiến sĩ năm xưa trước hết vẫn là một con người bình thường, có gia đình để thương, có tuổi trẻ để tiếc, có những ngày mạnh mẽ và cũng có những phút lòng mình yếu đi. Chính sự bình thường ấy mới khiến những năm tháng quân ngũ trở nên gần gũi và đáng trân trọng. Tôi từng là một chiến sĩ của Sư đoàn 305, từng dành sáu năm tuổi trẻ trong hàng ngũ vào thời đất nước còn nhiều biến động. Đối với tôi, giá trị của quãng đời ấy không nằm ở việc phải có một câu chuyện vang dội, mà ở chỗ mình đã sống phần tuổi trẻ được trao bằng sự nghiêm túc, đã từng biết đặt điều chung bên cạnh điều riêng và đã học được tình nghĩa với những người cùng mình đi qua năm tháng.

Thế hệ hôm nay không cần phải trải qua chiến tranh để hiểu người đi trước. Điều cần nhất là hiểu vì sao hòa bình đáng quý. Một đất nước yên ổn cho con người quyền nghĩ xa hơn về cuộc đời, quyền chăm chút cho những ước mơ mà không sợ một biến động lớn bất ngờ cắt ngang. Chính vì vậy, điều người trước mong ở con cháu không phải là sự ngợi ca, mà là đừng sống hời hợt với những ngày bình yên. Hãy biết quý gia đình khi còn được ở bên nhau, biết quý quê hương ngay cả khi có thể tự do đi đến nhiều nơi, và biết rằng lịch sử không chỉ tồn tại trong sách mà còn nằm trong những cuộc đời đã từng đi qua những giai đoạn rất khác với hiện tại.

Sự biết ơn cũng không nhất thiết phải được nói bằng những câu thật lớn. Đôi khi nó chỉ là lúc một người trẻ nghe câu chuyện của người già mà không vội coi đó là chuyện xa xưa; là khi họ hiểu một cái tên đơn vị, một mốc nhập ngũ hay một năm xuất ngũ có thể chứa sau đó cả một phần đời không trở lại. Khi người sau biết lắng nghe như thế, ký ức không bị biến thành tượng đài lạnh lẽo. Nó vẫn có những rung động rất người – có nhớ thương, có hy vọng, có tuổi trẻ và có niềm mong mỏi được sống trong một đất nước bình yên.

Một viên đá nằm lâu dưới dòng nước thường không còn những cạnh sắc như ban đầu. Năm tháng cũng làm con người như thế. Những xao động của tuổi trẻ dần được mài thành sự điềm tĩnh, những nỗi khó khăn từng tưởng rất lớn rồi cũng lắng xuống. Nhưng phần cốt lõi vẫn còn: tình cảm dành cho quê hương, sự trân trọng những người đã từng đi cùng và ý thức rằng mình đã có một quãng đời sống giữa những biến động lớn của đất nước.

Người sau nhìn về quá khứ không cần phải đứng thật lâu ở đó. Chỉ cần đủ lâu để hiểu vì sao những người trước mình từng lựa chọn như vậy, vì sao một người thanh niên có thể dành những năm đẹp nhất cho hàng ngũ, rồi trở về tiếp tục một cuộc đời bình thường. Sự hiểu biết ấy sẽ khiến quá khứ không trở thành gánh nặng mà thành một điểm tựa tinh thần, giúp con người biết quý hơn điều mình đang có.

Và khi mọi chi tiết rồi có thể phai đi theo tuổi tác, điều đáng được giữ lại vẫn là hình ảnh một người chiến sĩ bình dị đã sống phần đời của mình trong hoàn cảnh của dân tộc. Không cần thêm vào đó những chiến công chưa được xác nhận, cũng không cần những lời ca ngợi quá mức. Chỉ cần nhắc lại bằng sự trân trọng rằng đã từng có một thế hệ như thế – biết đi khi đất nước cần, biết sống nghĩa tình giữa đồng đội và biết mang những năm tháng quân ngũ trở về như một phần nền sâu của cuộc đời. Với tôi, đó đã là một lời khắc ghi đủ đầy.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
LÊ MINH ĐỨC - NHỮNG NĂM THÁNG GIAN KHÓ | Câu chuyện thời hoa lửa