Lê Minh Hương
Nhân kỷ niệm 80 năm ngày sinh của cố Bộ trưởng Lê Minh Hương (3/10/1936-3/10/2016), Thượng tướng Bùi Văn Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Công an và các đồng chí thuộc Viện lịch sử CAND và Tổng cục Tình báo đã biên tập xây dựng cuốn sách “Một số hình ảnh về cuộc đời, sự nghiệp cách mạng của đồng chí Thượng tướng Lê Minh Hương”.
Trong lời giới thiệu cuốn sách, đồng chí Chủ tịch nước, Đại tướng Trần Đại Quang đã viết: “Trải qua hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, trong đó có 50 năm công tác, chiến đấu trong lực lượng vũ trang nhân dân và nhiều năm giữ trọng trách là người lãnh đạo cao nhất của lực lượng CAND, trong bất cứ công tác gì và hoàn cảnh nào, đồng chí Thượng tướng Lê Minh Hương đã đem hết sức lực, tài năng, trí tuệ, tầm hiểu biết sâu rộng và nhiệt huyết cách mạng để cùng với tập thể Ban chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc... Đồng chí Lê Minh Hương đã nêu tấm gương sáng về đạo đức, phẩm chất cao đẹp của một chiến sĩ cách mạng kiên cường, một cán bộ lãnh đạo gương mẫu, giàu nghị lực”.
Có lẽ, đây là sự đánh giá, ghi nhận đầy đủ, khái quát, sâu sắc về cuộc đời và sự nghiệp của Thượng tướng Lê Minh Hương, một nhà lãnh đạo chính trị tài năng, một Bộ trưởng có tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới, kiến thức uyên bác và hết sức nhạy bén trước những thời điểm quan trọng của đất nước.
1. Tôi còn nhớ sau chiến tranh biên giới năm 1979 ở biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc, khi đó, với cương vị phụ trách lực lượng Tình báo, đồng chí đã cảm nhận và trao đổi với chúng tôi “chúng ta phải sớm bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc”. Và trong những năm tháng đó, đồng chí đã chỉ đạo lực lượng Tình báo nắm, phân tích tình hình và mạnh dạn đề xuất với lãnh đạo cấp trên Việt Nam cần sớm thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc.
Những báo cáo và đề xuất đó đã góp phần vào việc bình thường hóa quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vào tháng 10/1991 trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Bình thường hóa quan hệ Việt-Trung đã góp phần quan trọng để Việt Nam hội nhập quốc tế (gia nhập ASEAN năm 1995, WTO năm 2007). Quan hệ ổn định với Trung Quốc đã góp phần tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam phát triển kinh tế (tăng trưởng trung bình 7-8% trong thập kỷ 1990).
Sau đó, Việt Nam và Trung Quốc đã mở lại cửa khẩu Hữu nghị Lạng Sơn và Bắc Luân, Móng Cái, Quảng Ninh vào năm 1994, chính Thượng tướng Lê Minh Hương, khi đó là Thứ trưởng Bộ Công an đã là một trong những người đầu tiên đi xe qua cầu Bắc Luân, Móng Cái (17/4/1994), chính thức thông thương hàng hóa và người dân qua lại, mở ra một biên giới hòa bình, hữu nghị và hợp tác. Hơn 30 năm đã trôi qua, tôi cảm phục tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược của các đồng chí lãnh đạo cấp cao, trong đó có đồng chí Lê Minh Hương.
- Một việc nữa mà tôi muốn nói đến là tầm nhìn sắc sảo, nhạy bén của đồng chí Lê Minh Hương trong thúc đẩy quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ. Khi được giao phụ trách công tác Tình báo, từ kinh nghiệm trong nhiều năm công tác ở nước ngoài, với tầm hiểu biết và nhãn quan chính trị sắc sảo, đồng chí là một trong những lãnh đạo Công an nắm vững, hiểu biết sâu sắc về tình hình quốc tế.
Trong thời gian công tác ở nước ngoài, nhiều báo cáo của đồng chí gửi về Bộ đã được đồng chí Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn lúc đó trực tiếp xem và đánh giá cao; cố Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn nhìn thấy ở đồng chí năng lực của nhà lãnh đạo và khả năng phân tích, dự báo của nhà chiến lược. Ngay khi trở lại công tác ở Bộ, đồng chí đã được phân công phụ trách công tác phân tích, xử lý tin Tình báo và năng lực đó đã thể hiện và khẳng định ở bất kỳ cương vị nào, nhất là khi đồng chí trở thành lãnh đạo Bộ Công an, Ban nghiên cứu chiến lược của Đảng.
Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Mỹ và phương Tây đã thực hiện chiến lược bao vây, cấm vận Việt Nam; bên trong thì kích động các thế lực chống đối gây bạo loạn, phá hoại, Fulro nổi lên ở Tây Nguyên, tiếp đến chiến tranh biên giới Tây Nam, phía Bắc. Để cứu dân tộc Campuchia khỏi họa diệt chủng, Quân đội Việt Nam đã sang Campuchia giúp bạn xóa bỏ chế độ Khmer Đỏ, xây dựng lại đất nước Campuchia. Mỹ, phương Tây và các thế lực thù địch tiến hành các biện pháp bao vây, cấm vận, cô lập Việt Nam trong quan hệ quốc tế. Chưa lúc nào kinh tế, xã hội Việt Nam lại khó khăn như thời điểm đó.
Để hóa giải những khó khăn, thách thức cả bên ngoài và bên trong, từ Đại hội VI, Đảng ta đã thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã chuyển nền kinh tế từ tập trung, quan liêu, bao cấp, sang nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Về đối ngoại, tiếp tục mở rộng bình thường quan hệ với Trung Quốc, rút quân khỏi Campuchia. Yêu cầu của Bộ Chính trị, Trung ương là ta phải phá cho được thế bao vây cấm vận, đưa Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Trên cương vị Tổng cục trưởng Tình báo, Thứ trưởng phụ trách công tác an ninh, tình báo thời kỳ cuối 80 đầu những năm 90 thế kỷ trước, đồng chí Lê Minh Hương đã có nhiều đóng góp quan trọng. Đồng chí được giao qua các kênh thăm dò và thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Mỹ. Với nhiều lần báo cáo trực tiếp với lãnh đạo cấp cao kiến nghị các bước đi để bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Khả năng kết hợp giữa công tác Tình báo và ngoại giao đã giúp đồng chí xử lý hài hòa và hiệu quả vấn đề rất nhạy cảm lúc đó là bằng cách nào bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ mà vẫn giữ được độc lập, chủ quyền, không ảnh hưởng tới quan hệ với các nước khác.
Đồng chí đã tham gia vào các quyết sách quan trọng lúc đó như năm 1991, Mỹ công bố lộ trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, yêu cầu hợp tác về MIA; năm 1993, Tổng thống Bill Clinton nới lỏng cấm vận, cho phép các tổ chức quốc tế như WB, IMF cung cấp các khoản vay cho Việt Nam.
Việt Nam và Mỹ tăng cường hợp tác nhân đạo, đặc biệt trong vấn đề tìm kiếm MIA; năm 1994, Mỹ đã bỏ cấm vận kinh tế (3/2/1994) mở đường cho các công ty Mỹ vào Việt Nam. Hai bên thành lập các văn phòng liên lạc tại Hà Nội và Washington và ngày 11/7/1995, Tổng thống Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đánh dấu một bước ngoặt trong quan hệ giữa hai nước.
Suốt thời gian này, đây là vấn đề đồng chí luôn trăn trở, suy nghĩ, với sự liên kết sâu rộng, năng lực phân tích, dự báo của nhà chính trị chiến lược và sự nhạy cảm của nhà Tình báo, đồng chí đã có nhiều ý kiến đề xuất kịp thời, chính xác với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, góp phần quan trọng đưa Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập, phá thế Việt Nam bị bao vây, cấm vận trong suốt 20 năm sau ngày giải phóng.
Những kỷ niệm của tôi với đồng chí trong thời kỳ này vô cùng sâu đậm, còn rất nhiều những sự kiện mà tôi vẫn nhớ như in về người Thủ trưởng tài năng, có tư duy đổi mới, biết chọn ra những vấn đề quan trọng nhất của đất nước để tham mưu, kiến nghị. Có thể khẳng định, đồng chí là một trong những lãnh đạo có nhiều đóng góp về đổi mới công tác đối ngoại của Đảng ta. Chỉ qua hai việc nêu trên đã cho thấy, đồng chí là một nhà lãnh đạo chính trị tài năng, một nhà ngoại giao sắc sảo, vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa giỏi về triển khai thực hiện và đặc biệt là tư duy đổi mới, nhạy bén trong công tác an ninh đối ngoại.
2. Đồng chí Lê Minh Hương đến với công tác Công an như là một duyên định và trong suốt 50 năm trong lực lượng CAND trưởng thành từ cán bộ trinh sát Công an liên khu IV, đến khi là Bộ trưởng, người lãnh đạo cao nhất trong lực lượng CAND trong thời kỳ đầu đổi mới, như đánh giá của Bộ Công an: “Sinh ra trên vùng đất “địa linh nhân kiệt”, giàu truyền thống yêu nước của quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh, đồng chí Lê Minh Hương sớm tham gia cách mạng, trở thành người cộng sản mẫu mực, nhà ngoại giao, chiến sĩ Tình báo xuất sắc, là một trong những đồng chí lãnh đạo cao nhất của lực lượng CAND, luôn trung thành, tận tụy, cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc vì an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân”.
- Từ rất sớm (4/1956), từ Ủy viên thường trực UBND thị xã Hà Tĩnh, đồng chí chuyển sang làm cán bộ trinh sát Công an Hà Tĩnh, Công an Liên khu IV. Những đồng nghiệp với đồng chí thời kỳ đó mà tôi có dịp gặp đều đánh giá đồng chí là một trinh sát có năng lực, đam mê với nghề nghiệp, gắn bó với nhân dân. Nhiều người dân công giáo bên dòng sông La, Đức Thọ vẫn nhắc những kỷ niệm của đồng chí thời kỳ tham gia vận động giáo dân không di cư vào Nam năm 1954.
- Quá trình tham gia công tác Công an không thể không nhắc đến những năm tháng đồng chí công tác độc lập ở bên ngoài. Ngoài những đóng góp cho công tác ngoại giao trên cương vị được phân công, kinh nghiệm cán bộ trinh sát, năng khiếu chính trị, nhạy cảm trong công tác đối ngoại ở đồng chí chính là sự kết hợp, hòa quyện chặt chẽ giữa công tác Tình báo và hoạt động ngoại giao.
Bộ Công an khẳng định đồng chí là “chiến sĩ Tình báo xuất sắc” góp phần bảo vệ an ninh quốc gia từ sớm, từ xa; đồng thời, đồng chí cũng là nhà ngoại giao sắc sảo, góp phần xử lý có hiệu quả nhiều vấn đề đối ngoại, nhạy cảm trong bối cảnh Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới; các tổ công tác ở bên ngoài mà đồng chí giữ cương vị tổ trưởng đều là những tổ tình báo xuất sắc, có tổ đã được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.
Đồng chí Nguyễn Dy Niên, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và nhiều đồng chí lãnh đạo, cán bộ Bộ Ngoại giao từng công tác với đồng chí Lê Minh Hương đều đánh giá cao về năng lực và phương pháp làm việc của đồng chí trong công tác đối ngoại. Trong quá trình công tác, trước những vấn đề phức tạp về đối ngoại, đồng chí đều thể hiện là một cán bộ có hiểu biết, tầm nhìn và phương pháp xử lý sắc sảo, hiệu quả.
- Trên cương vị người đứng đầu lực lượng Tình báo CAND, trong nhiều năm, đồng chí đã có nhiều đóng góp rất quan trọng và để lại những di sản cực kỳ quý báu. Khi được Bộ giao người đứng đầu lực lượng Tình báo trong thời điểm tình hình thế giới, khu vực rất phức tạp, bên ngoài Liên Xô-Đông Âu sụp đổ, Việt Nam bị bao vây, cấm vận, chưa bình thường hóa quan hệ với cả Mỹ và Trung Quốc, ASEAN; tàn dư của cuộc chiến tranh chống Mỹ, chiến tranh biên giới phía Bắc, Tây Nam; kinh tế, xã hội vô cùng khó khăn... Trước bối cảnh đó, nhiệm vụ đặt ra với lực lượng Công an nói chung, Tình báo nói riêng vô cùng nặng nề.
Là người đứng đầu lực lượng Tình báo thời kỳ này, đồng chí Lê Minh Hương với năng lực, phẩm chất và trí tuệ đã đổi mới toàn diện, mọi mặt công tác Tình báo CAND. Với tầm nhìn xa và thực tiễn, đồng chí đã định hình một mô hình tổ chức Tình báo rất khoa học cả trong và ngoài nước, đổi mới tư duy lý luận Tình báo từ thực tiễn Việt Nam và bài học từ lịch sử của cha ông làm Tình báo.
Khi đồng chí Mai Chí Thọ từ TP Hồ Chí Minh ra giữ cương vị Bộ trưởng Nội vụ, một trong những lực lượng đầu tiên đồng chí tới chỉ đạo là lực lượng Tình báo. Quán triệt đường lối đổi mới của Đảng trong công tác Công an, có thể khẳng định Tình báo thời kỳ này dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Lê Minh Hương là một trong các lực lượng đổi mới sớm, toàn diện, hiệu quả cả tư duy, lý luận, tổ chức cán bộ và biện pháp công tác mà cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Một trong những đột phá về thể chế tạo hành lang pháp lý cho hoạt động Tình báo là đồng chí đã chỉ đạo Tình báo Công an phối hợp với Tình báo Bộ Quốc phòng đề xuất và Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhất trí, và ngày 14/12/1996 Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh ký ban hành Pháp lệnh Tình báo, sau đó Chính phủ đã ban hành Nghị định 97/CP quy định thực hiện Pháp lệnh Tình báo đối với lực lượng Tình báo Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an).
Đây là lần đầu tiên trong 50 năm hoạt động, lực lượng Tình báo có văn bản pháp quy quan trọng, quy định chức năng, nhiệm vụ làm cơ sở cho mọi hoạt động nghiệp vụ, xây dựng lực lượng, giải quyết chính sách không chỉ cho lực lượng Tình báo mà cả với người cộng tác với lực lượng Tình báo.
Thời điểm này, trên cương vị Bộ trưởng, ngày 15/10/1997 đồng chí Lê Minh Hương đã ban hành Chỉ thị 2358/CT-BNV “Tăng cường công tác Tình báo trong tình hình mới”. Trong Chỉ thị quan trọng này đã xác định các quan điểm, nguyên tắc chỉ đạo, những nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng Tình báo CAND, những văn bản quan trọng này đã mở ra một giai đoạn phát triển mới của công tác tình báo nói chung và Tình báo CAND.
Cùng với sự chỉ đạo, đổi mới mọi mặt công tác Tình báo, đồng chí Lê Minh Hương rất quan tâm công tác xây dựng lực lượng và đào tạo cán bộ. Mặc dù bận nhiều công việc song đồng chí rất quan tâm đến công tác đào tạo cán bộ, đồng chí đã trực tiếp tham gia giảng dạy nhiều lớp cán bộ Tình báo, những gì tốt nhất đồng chí đều dành cho việc đào tạo cán bộ, những bài giảng, kiến thức của đồng chí đã thực sự truyền cảm hứng và say mê nghề nghiệp cho CBCS, chính vì vậy đội ngũ cán bộ Tình báo không ngừng trưởng thành, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và phát triển đất nước. Nhiều đồng chí sau này trưởng thành giữ những cương vị trọng trách cao trong hệ thống chính trị của đất nước.
Cho đến hôm nay, các thế hệ CAND nói chung, Tình báo CAND nói riêng đều tự hào về đồng chí Lê Minh Hương không chỉ là một cán bộ Tình báo xuất sắc mà còn là người lãnh đạo, chỉ huy Tình báo tài năng, đổi mới, nhiệt huyết, khát vọng với tầm nhìn xa và đặt lên hàng đầu lợi ích quốc gia, dân tộc, được anh em, các bộ, ngành yêu mến và bạn bè quốc tế kính trọng.
Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Công an (1996-2002), đồng chí Lê Minh Hương đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm, trong những năm tháng khó khăn, phức tạp của thời kỳ đổi mới, hội nhập đồng chí đã cùng với tập thể lãnh đạo Bộ Công an, lãnh đạo lực lượng CAND vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, xây dựng lực lượng CAND vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế.
Có nhiều việc có thể nói về những đóng góp, vai trò của đồng chí trong thời kỳ này: Chính đồng chí Lê Minh Hương là người đặt nền móng cho việc xây dựng chiến lược An ninh quốc gia, thể hiện tầm nhìn chiến lược, sự gắn kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn trong chỉ đạo an ninh quốc gia.
Tôi được chứng kiến từ suy nghĩ ban đầu, đến hình thành đề cương, báo cáo Bộ Chính trị và quá trình xây dựng ban hành Nghị quyết về chiến lược Bảo vệ An ninh quốc gia; tôi thực sự khâm phục tài năng, tầm nhìn và quá trình triển khai thực hiện. Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã ký ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về “Chiến lược An ninh quốc gia”. Đây là lần đầu tiên Đảng ta có một nghị quyết riêng về chiến lược An ninh quốc gia, trong đó xác định những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia và các giải pháp, chủ trương cơ bản trong bảo vệ an ninh quốc gia.
Sau 20 năm triển khai và sau khi tổng kết thực hiện, Bộ Chính trị đã tiếp nối ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới"; Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 51-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ An ninh quốc gia” (2019). Điều đó cũng cho thấy giá trị ý tưởng ban đầu có tầm nhìn xa trông rộng của đồng chí Lê Minh Hương đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc nói chung và sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia nói riêng. Những nghị quyết có tầm chiến lược của Đảng đã tạo thế chủ động chiến lược, không để đất nước bị động, bất ngờ về chiến lược, giữ vững môi trường hòa bình, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, phục vụ đắc lực nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội và đối ngoại của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò Việt Nam trong hợp tác quốc tế.
Điều tôi cũng cảm nhận sâu sắc ở đồng chí Lê Minh Hương là Bộ trưởng đã có vai trò quan trọng trong việc đưa lực lượng CAND mở rộng quan hệ hợp tác với các cơ quan an ninh, Tình báo, cảnh sát quốc tế trong đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia.
Trên cương vị Bộ trưởng, cùng với việc chỉ đạo toàn diện các mặt công tác, đồng chí đã dành nhiều thời gian cho công tác đối ngoại, với kiến thức, hiểu biết quốc tế sâu rộng, giỏi ngoại ngữ và phong cách đối ngoại vừa nguyên tắc, vừa mềm mại, tế nhị, chân thành và gần gũi, đồng chí đã góp phần đưa công tác đối ngoại của Bộ Công an lên tầm cao mới. Điều này góp phần nâng cao vị thế lực lượng CAND trong quan hệ quốc tế, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia từ sớm, từ xa, phát hiện đấu tranh với nhiều vụ án lớn, phối hợp Interpol, các quốc gia Đông Nam Á triệt phá nhiều đường dây ma túy xuyên biên giới; là thành viên ASEANAPOL.
Đồng chí đã chỉ đạo việc ký kết các thỏa thuận giữa Bộ Công an Việt Nam với các cơ quan chức năng các nước như Thái Lan, Singapore, Malaysia... để đối phó với các thách thức an ninh trong khu vực. Sau khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ (1995), đồng chí đã chỉ đạo Bộ Công an chủ động tham gia các chương trình hợp tác an ninh với các cơ quan như FBI và DEA (Cơ quan phòng chống ma túy).
Có thể khẳng định, đây là những tư duy rất đổi mới trong hợp tác quốc tế của Bộ Công an, cải thiện lòng tin giữa Việt Nam với các đối tác trong lĩnh vực an ninh, một lĩnh vực vốn rất nhạy cảm, có thể nói đây là những bước đi rất quan trọng trong bối cảnh vốn là những nước từng là đối thủ trong chiến tranh. Có lẽ, đồng chí là một trong những lãnh đạo từ rất sớm đã nhận thức và triển khai thành công quan điểm về “đối tác, đối tượng” của Đảng.



