Bài viết

LÊ NGÂN - BỘ ĐỘI CỤ HỒ - NHÀ GIÁO - NHÀ THƠ (1)

Lê Ngân, sinh năm 1934, tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, Yên Bái, nay thuộc xã Quy Mông, tỉnh Lào Cai. Từ nhỏ, ông đã nổi tiếng khắp làng xã về sự thông minh, hiếu học và có năng khiếu thơ văn, nên dù hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, bố mẹ ông vẫn cần kiệm, chắt bóp cho ông đi học. Năm 1952, khí thế kháng chiến chống Pháp lên rất cao ở mọi vùng quê Yên Bái, thanh niên nô nức tòng quân, người ở nhà hăng hái tăng gia sản xuất góp gạo nuôi quân. Chàng thanh niên Lê Ngân lúc đó vừa bư

Lào Cai10/04/2026Hiền Lương (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Các cơ quan Đảng tỉnh Lào Cai)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông được biên chế vào Đại đội 87, bộ đội địa phương Trấn Yên, Yên Bái. Đầu năm 1953, ông được điều chuyển sang bộ đội chủ lực thuộc Đại đội 53, Tiểu đoàn 955, Trung đoàn 159 để tăng cường lực lượng cho chiến dịch Tây Bắc. Chiến dịch Tây Bắc thắng lợi, giải phóng một vùng đất rộng lớn, nối liền vùng giải phóng Tây Bắc với căn cứ địa Việt Bắc. Thừa thắng xốc tới, tháng 10/ 1953, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954, tập trung lực lượng tiến công vào những hướng quan trọng mà địch tương đối yếu, nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, đồng thời buộc địch phải bị động phân tán lực lượng tạo điều kiện cho ta tiêu diệt từng bộ phận sinh lực địch. Tháng 12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt toàn bộ quân địch ở Điện Biên Phủ, phá tan kế hoạch Nava, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh ở Đông Dương. Yên Bái lúc đó, trở thành cửa ngõ đón các đoàn quân lên chiến trường Điện Biên. Là người lính, ai cũng muốn được lên chiến trường Điện Biên tham gia vào trận đánh lịch sử. Lê Ngân cùng các đồng đội rất háo hức đợi ngày lên đường, thì bỗng nhận được lệnh hành quân lên Than Uyên làm nhiệm vụ tiễu phỉ. Ai cũng thắc mắc, sao không được lên Điện Biên, thủ trưởng phải quán triệt nhiệm vụ tiễu phỉ cho bộ đội: “Hiện Thực dân Pháp đang bị thua đau trên nhiều mặt trận, nhưng chưa từ bỏ dã tâm xâm lược. Chúng tung nhiều toán gián điệp, biệt kích vào vùng giải phóng của ta. Chúng mua chuộc, lừa phỉnh đồng bào dân tộc, lập các toán phỉ nhằm gây bạo loạn, lật đổ chính quyền cách mạng để chiếm lại các địa bàn vùng núi đã được giải phóng hòng thay đổi thế cờ đang khốn đốn. Ở Than Uyên bọn phỉ đã liều lĩnh cướp kho mậu dịch Mường Cang, đánh chiếm Mường Khoa, Thân Thuộc, Mường Than, tập kích cơ quan Huyện ủy, Ủy ban Hành chính huyện, giết chết ba đồng chí lãnh đạo huyện. Lực lượng phỉ Than Uyên đã lên tới 2.000 tên, được máy bay Pháp liên tục thả dù tiếp tế vũ khí, lương thực, thực phẩm, thuốc men. Chúng âm mưu chiếm toàn bộ Than Uyên, lấy Than Uyên làm bàn đạp để phát triển về Mường Kim, Khau Mang, Lao Chải, Mồ Dề, xuống Văn Chấn, sang Văn Bàn, Lục Yên. Vì vậy cấp trên quyết định huy động đơn vị ta cùng với một số đơn vị bạn gấp rút thực hiện nhiệm vụ tiễu phỉ. Nhiệm vụ tiễu phỉ cũng quan trọng như nhiệm vụ lên Điện Biên...”. Thế là, ngay sáng sau đơn vị đã lên đường. Đại đội của Lê Ngân, được phân công về Mường Khoa, một điểm nóng về hoạt động của phỉ. Đó là những tháng ngày hết sức gian khổ, không phải chỉ vì thiếu thốn vật chất mà là dân bản bị bọn phỉ vừa khống chế vừa lừa phỉnh, mua chuộc, dụ dỗ đã không chịu hợp tác với bộ đội. Đại đội làm lán đóng quân tại bản nhưng dân luôn tìm cách tránh mặt bộ đội. Bộ đội chào, hỏi dân cũng không thưa, hoặc chỉ lắc đầu “chi pâu”1. Có sáng thức dậy tập thể dục, đã thấy có nhiều băng giấy dán trong bản với lời lẽ xuyên tạc, xảo trá, nhằm phá hoại chính quyền cách mạng, ly gián giữa bộ đội với nhân dân: “Đả đảo bộ đội”, “Xứ Mông tự trị không có người Kinh”, “Người Mông phải về với vua Mông”, “Đánh người Kinh để không phải đóng thuế, không phải đi dân công”, “Người thiểu số không bắn người thiểu số”... Phải sau nhiều ngày kiên trì thuyết phục, nhân dân mới hiểu âm mưu, thủ đoạn của địch và hợp tác với bộ đội tiễu phỉ. Mường Khoa được giải phóng, tên Châu Tấn cầm đầu tàn quân phỉ Mường Khoa trốn chạy lên Long Tẩu, Nậm Cần, Nậm Sỏ gây rối một thời gian rồi bị tan dã hoàn toàn. Sau khi Mường Khoa giải phóng, Lê Ngân được điều động về Ban Tham mưu Trung đoàn 159, làm Trợ lí Quân lực kiêm trợ lý Quân khí đóng quân ở Sa Pa. Lúc ấy, ở Mường Bo cũng bắt đầu nổi phỉ. Vàng A Bâu có tên quan tư Quốc dân Đảng Hoàng Sèo Lẻng làm quân sư nổi lên xưng Vua, lôi kéo người Mông về với vua Mông, chống đối chính quyền. Với kinh nghiệm tiễu phỉ ở Mường Khoa, Lê Ngân lại được phân công nhiệm vụ tiễu phỉ. Bàn chân Lê Ngân, cùng đồng đội lại in dấu suốt một dải biên cương Mường Bo, Seo Chung Hồ, Ta Cô, Móng Sến , Úa Lùng Sung để quét sạch bọn thổ phỉ. Sau khi các toán phỉ ở Sa Pa bị xóa sổ, Lê Ngân được điều về Đại đội 94, Kinh pháo của Trung đoàn gồm các loại vũ khí ĐKZ, Đại liên, Cối 82. Lúc này bọn phỉ lại chuyển sang Bắc Lai chống phá điên cuồng, Lê Ngân lại cùng đồng đội vượt đèo Pha Đin sang Tuần Giáo, Lai Châu tham gia tiễu phỉ ở Bắc Lai. Bọn phỉ ở Bắc Lai bị tiêu diệt hoàn toàn cũng là lúc Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợị. Lê Ngân được điều động sang lực lượng bộ đội biên phòng. Ông được phân công về Tiểu khu 53, gồm 4 Đồn Biên phòng Pa Háng, Pa Khôm, Nà Đít, Xuân Nha. 11 năm quân ngũ, gắn bó với núi rừng và đồng bào các dân tộc. Với cảm hứng thi sỹ- chiến sỹ Lê Ngân đã viết khá nhiều thơ về cuộc sống chiến đấu của người chiến sỹ: “Trắng mãi một mùa hoa”, “Nghĩa Lộ mùa Xuân”, “Nhớ một ngày”, “Về Mường Khoa”, “Mường Khoa ngày có Phỉ”, “Trên đoạn đường đèo”, “Trên đỉnh Pha Đin”,”Pa Lếch một mùa mưa”, “Lên Seo Chung Hồ”, “Đêm Ta Cô”, “Xuôi Sông Hồng”, “Chiềng Ve”, “Lau thưa xào xạc mãi”, “Cựu Chiến binh”... Đó là buổi lên chia tay gia đình, quê hương lên đường nhập ngũ: “Ngày anh đi hoa trẩu trắng đường làng/ Trời se lạnh làn gió quê lùa thổi/ Phía sau lưng rặng tre dần khuất lối/ Xa, mờ xa những xóm ngõ thân quen.../Ngày anh đi mẹ đứng cuối hiên/ Thờ thẫn trông theo mắt nhìn đăm đắm.../ Ngày anh đi mười tám tuổi đời/ Hướng phía trước cả một trời mơ mộng.../ Ngày anh đi đơn giản thế thôi/ Chẳng rinh rợp tiễn đưa ồn ã/ Lính tình nguyện chống Pháp đều thế cả/ Gánh nhẹ thênh chỉ một trái tim hồng” (Trắng mãi một mùa hoa). Đó là buổi hành quân vào Nghĩa Lộ: “Đường vào Nghĩa Lộ mờ sương/Mây giăng Đèo Ách, nắng vương Cửa Nhì/Giêng hai giục bước người đi/ Trắng hoa Ban nở xanh rì rừng xanh...” (Nghĩa Lộ mùa Xuân). Đó là cảnh bản mường Tây Bắc xác xơ vì phỉ hoành hành: “Từ ngày nổi phỉ Mường Khoa/ Đầu mường, cuối bản nhà nhà xác xơ/ Lúa ngô vét sạch đáy bồ/ Lợn gà cống nộp, trâu bò còn đâu/ Cối nước không gạo dãi dầu/Cọn quay guồng chảynông sâu nỗi niềm/Người già lay lắt bóng đêm/Thương bày trẻ nhỏ đói cơm héo gày (Mường Khoa ngày có phỉ- 1954); “Seo Chung Hồ khuất sau mây/Hắt hiu dăm mái tranh gầy trong mưa/ Nép mình bên liếp cửa thưa/ Lặng nhìn đôi mắt trẻ thơ nghẹn lòng... (Lên Seo Chung Hồ- 1954). Đó là đêm trên bản Ta Cô: “Đêm Ta Cô gió rì rào gọi gió/Lạnh thấu xương manh trấn thủ mỏng tang/ Anh bộ đội ba cùng giật mình thức dậy/ Phía cầu Móng Sến có tiếng súng vọng sang/...Đơn vị anh vẫn vững vàng tay súng/ Tìm diệt phỉ Vàng Báu, Xèo Léng, lũ phỉ gian/ ... Ta Cô ơi! Ngày mai mồng một tết/ Liệu xuân về nắng ấm có về theo”. (Đêm Ta Cô- 30 tháng Chạp Giáp Ngọ, 23/1/ 1955. Đó là tình đồng đội của những người lính: “Về đại đội khinh pháo 94/ Gặp bạn mới Tân Nam kết nghĩa/ Chuyện quê nhà cùng nhau chia sẻ/ Hiểu lòng nhau gắn tình cảm thân thương.../Những đêm đông se lạnh giọt sương mai/ Tình đồng đội vẫn là liều thuốc quý/ Vượt chặng đường gian nan tiễu phỉ/ Để làm tròn nhiệm vụ lính biên cương”. (Tình đồng đội - Đông 1954). Đó là phút gặp gỡ giữa anh lính trẻ trên đường hành quân với cô gái bản Mường É: “Anh lính trẻ Thuận Châu đi ngược/ Gặp em từ bản vắng rẽ sang.../ Ngập ngừng bối rối nhìn em/ Một bông hoa núi giọng êm dịu dàng.../ Đỉnh Pha Đin đã hiện ra đây rồi/ Đường ơi sao vội rẽ đôi/ Để cho cá nước, chim trời dở dang/ Đỉnh đèo nơi rẽ đôi đằng/ Kẻ về Mường É, người sang Phủ Tuần”. (Trên đoạn đường đèo Pha Đin- 1955). Đó là ngày kết thúc chiến tranh, người lính xuôi theo sông Hồng từ Bảo Hà về Yên Bái, với niềm vui chiến thắng, niềm vui hòa bình: “Chào Bảo Hà hôm nay ta rời bến/ Giữa ban ngày đò dọc, thuyền xuôi/ Vừa mới đó gió mưa rừng ác liệt/ Đã bừng lên, lóe sáng nước sông vui” (Xuôi Sông Hồng, 1954)

Hòa bình lập lại, năm 1963 Lê Ngân được chuyển ngành đi học Đại học Sư phạm Toán tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, ông được phân công giảng dạy và làm công tác quản lý ở nhiều trường: Trường Cấp 3 Lục Yên, Trường Trung cấp Sư phạm Yên Bái, Trường Cấp 3 Văn Yên, Trường Trung học vùng cao nay là Trung học phổ thông dân tộc nội trú. 26 năm gắn bó với nghề dạy học, học trò, mái trường đã tạo cho ông nhiều cảm hứng. Với trái tim thi sỹ- nhà giáo, ông lại có nhiều sáng tác thơ cảm động về nghề thầy, về mái trường: “Một thời để nhớ”, “Về trường xưa”, “Trường vùng cao”... Đó là kỷ niệm về mái trường trong những năm tháng chiến tranh bao gian khó nhưng không thể nào quên: “Ta lại về với thuở ban đầu/ Những đường hầm, ụ pháo, hố sâu/ Chằng chịt dây leo/ Cỏ cây bao bọc/ Từ nơi đây dựng lên trường học/ Trường Cấp ba Văn Yên/ Ta gọi ngôi trường trận địa đầu tiên/ Mùa qua mùa năm tháng triền mien/ Ngôi trường ấy không ngừng sôi nổi/ Lửa ký túc vẫn hai lần sáng tối/ Bữa cơm quê sắn độn trắng phau/ Học trò nghèo vẫn ríu rít bên nhau/ Kỷ niệm xưa đã thành xa vắng/ Nhưng lòng ta chẳng thể nào phai/ Thoáng vương buồn là những cuộc chia ly/ Khi thầy giáo, học trò đi đánh Mỹ.../Yêu quê hương ta xây trường, dựng lớp/ Nhưng Tổ quốc cần chúng ta lại ra đi.../ Cấp ba Văn Yên ơi! Ngôi trường ta yêu mến/ Ôi ngôi trường trận địa đầu tiên/ Mãi mãi là nỗi nhớ, niềm tin”.(Ngôi trường- Nôi nhớ- Niềm tin). Đó là niềm xao xuyến với cuộc đời dạy học: “Phấn trắng bùi ngùi vương mái tóc/ Bảng đen thăm thẳm cõi nông sâu/ Bâng khuâng hồi tưởng ngày xưa ấy/ Văng vẳng trống trường vọng mãi sau”(Bâng khuâng).

Bên cạnh mảng thơ về đời lính, đời thầy, Lê Ngân cũng viết nhiều về quê hương, về gia đình: “Y Can”, “Đêm quê hương”, “Thăm trường quê”, “Quê ngoại”, “Về quê giỗ mẹ” , “Mẹ về”, “Dặn cháu”, “Ông và cháu”, “Bé Việt”... Đó là quê Y Can nơi ông sinh ra: “Theo anh em về Y Can / Nghiêng nghiêng đồng bãi nắng tràn ven thung/ Lượn theo một khúc sông Hồng/ Phù sa bồi đắp lên vùng quê anh” (Y Can). Đó là sự gắn bó máu thịt của ông với quê hương:”Đã bao lần tôi trở lại thăm quê/ Vẫn háo hức lối đi về xóm cũ/ Mấy cây gạo ngày xưa đâu còn nữa/ Để mùa hoa trải lửa ấm chân đê.../ Đây Khe Gạo nơi cha sang đón mẹ/ Nắng cọ xòe xanh mãi lối đưa dâu.../ Còn sót lại cây trẩu già cằn cỗi/ Thân xù xì qua nắng mưa vẫn đợi/ Hoa rung rung rơi trắng nẻo tôi về...`/Thẫn thờ bước chân lặng lẽ cuối chiều/ Tôi dừng lại trước hai ngôi trường mới/ Cấp một, cấp hai nhà tầng mái ngói/ Còn trường xưa dấu cũ cuối con đường.../ Đêm bồng bềnh mái tóc trấng màu mây/ Chỉ có vầng trăng xưa còn trẻ mãi/ Vẫn cùng tôi nhớ một thời xa ngái/ Ơi cội nguồn! Thao thức một miền quê” (Thao thức một miền quê); “Bao năm rồi tôi lại về đây/ Thoáng bóng học trò nhớ mình thời thơ dại/ Quê hương ơi bao đời nắng trải/ Gió dập mưa vùi đất lại vươn lên” (Thăm trường quê); “Mừng vui đón cháu chào đời/ Cháu trai! Khuôn mặt rạng ngời đáng yêu/ Cả nhà mong đợi sớm chiều/Cháu là ngọc quý, ông yêu vô cùng” (Bé Việt); “Cháu ơi ông dặn điều này/ Muốn lên sự nghiệp phải say học hành/ Giữ gìn phẩm hạnh thanh danh/ Luyện tài, rèn đức để thành người ngoan/ Đường dài tuy lắm gian nan/ Mùa xuân đón đợi mở trang cuộc đời/ Gắng lên, bền chí cháu ơi” (Dặn cháu)

Đến nay, Lê Ngân đã xuất bản 4 tập thơ “Hương quê”, “Nghiêng nghiêng bóng núi”, “Thao thức một miền quê”, “Lau thưa xào xạc mãi”. Thơ ông dù viết về quê hương hay một vùng đất trên con đường hành quân, về người lính hay hay người thầy, về mái trườnghay học trò, đều được viết với một cảm xúc chân tình, mãnh liệt, dâng trào. Những “thao thức”, “xào xạc”, “bâng khuâng”, “tiếc nuối” trong thơ ông là những “thao thức”, “xào xạc”, “bâng khuâng”, “tiếc nuối”của chính trái tim ông, trái tim người con của làng quê, trái tim anh bộ đội Cụ Hồ, trái tim người thầy giáo. Thơ Lê Ngân luôn đầy ắp cảm xúc, trôi theo cảm xúc giống như khi Tế Hanh viết “Nhớ con sông quê hương,”, Giang Nam viết “Quê hương”, Hoàng Cầm viết “Bên kia sông Đuống”... Kỷ niệm, hình ảnh ùa về, cảm xúc tràn ra theo ngòi bút, không bị cấu tứ gò bó nên các bài thơ của ông thường khá dài. Nét riêng thơ Lê Ngân, đặc sắc thơ Lê Ngân cũng ở đó. Nếu xem mỗi bài thơ Lê Ngân như một nốt nhạc thì toàn bộ thơ Lê Ngân là bản giao hưởng thấm đẫm tình đời, tình người. Cuộc đời và thời đại đã tạo nên thơ Lê Ngân. Nếu không có những tháng ngày chiến đấu trên các nẻo đường Tây Bắc, nếu không có những tháng năm dựng lớp, mở trường trong chiến tranh đầy gian khó, nếu không có sự gắn bó sâu nặng với quê hương, gia đình, thì không có “Hương quê”, “Nghiêng nghiêng bóng núi”, “Thao thức một miền quê”, “Lau thưa xào xạc mãi”. Với những gì đã làm được trong cuộc đời, Lê Ngân xứng đáng với danh hiệu cao quý: Bộ đội Cụ Hồ - Nhà giáo - Nhà thơ.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn