Bài viết

LÊ QUÝ ĐÔN – NHÀ BÁC HỌC LỚN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Đồng Tháp01/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ
LÊ QUÝ ĐÔN – NHÀ BÁC HỌC LỚN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Nội dung lịch sử

Trong lịch sử văn hóa và khoa học Việt Nam, Lê Quý Đôn được tôn vinh là một trong những nhà bác học lớn nhất của dân tộc. Cuộc đời của ông gắn liền với tinh thần ham học, ý chí tự rèn luyện và khát vọng cống hiến cho đất nước. Những công trình đồ sộ mà ông để lại đã trở thành di sản quý báu về lịch sử, địa lý, kinh tế, văn hóa, giáo dục và triết học của Việt Nam.

Lê Quý Đôn tên thật là Lê Danh Phương, sinh ngày 2 tháng 8 năm 1726 tại làng Diên Hà, huyện Diên Hà, trấn Sơn Nam (nay thuộc xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học, từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, chăm chỉ và có trí nhớ đặc biệt.

Theo các tài liệu lịch sử, ngay từ thuở thiếu thời, Lê Quý Đôn đã dành phần lớn thời gian để đọc sách. Ông không chỉ học kinh điển Nho giáo mà còn tìm hiểu nhiều lĩnh vực như thiên văn, địa lý, lịch sử, quân sự, nông nghiệp, toán học và y học. Tinh thần học tập suốt đời giúp ông tích lũy một vốn tri thức rộng lớn hiếm có trong lịch sử nước ta.

Năm 1752, dưới triều vua Lê Hiển Tông, Lê Quý Đôn đỗ đầu kỳ thi Hội, sau đó đỗ Đình nguyên Bảng nhãn. Từ đây, ông bước vào con đường làm quan và đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình.

Không chỉ là một vị quan thanh liêm, tận tụy, Lê Quý Đôn còn luôn quan tâm đến đời sống nhân dân. Trong quá trình đi các địa phương để thi hành công vụ, ông chú ý quan sát tình hình kinh tế, sản xuất, phong tục tập quán, địa lý và đời sống xã hội. Những ghi chép của ông trở thành nguồn tư liệu có giá trị đặc biệt đối với việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam.

Lê Quý Đôn để lại khối lượng trước tác rất đồ sộ với hàng chục tác phẩm lớn. Tiêu biểu có Kiến văn tiểu lục, ghi chép nhiều sự kiện lịch sử, văn hóa và xã hội của đất nước; Phủ biên tạp lục, phản ánh khá toàn diện tình hình vùng Thuận Hóa và Quảng Nam sau khi được triều đình tiếp quản; Vân đài loại ngữ, được xem như một bộ bách khoa thư của Việt Nam thế kỷ XVIII, tập hợp kiến thức trên nhiều lĩnh vực từ thiên văn, địa lý, lịch sử đến nông nghiệp, y học và văn học.

Đặc biệt, Phủ biên tạp lục là một nguồn tư liệu quan trọng trong việc nghiên cứu quá trình quản lý, khai phá và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong tác phẩm này, Lê Quý Đôn đã ghi chép về hoạt động của Đội Hoàng Sa, việc khai thác sản vật, đo đạc hải trình và thực hiện nhiệm vụ theo lệnh của triều đình. Những tư liệu đó hiện vẫn được các nhà nghiên cứu sử dụng khi tìm hiểu lịch sử chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Không chỉ nghiên cứu lịch sử, Lê Quý Đôn còn đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế. Ông cho rằng muốn quốc gia hưng thịnh phải chăm lo nông nghiệp, khuyến khích học tập, sử dụng người hiền tài và xây dựng bộ máy quản lý trong sạch. Nhiều quan điểm của ông về giáo dục, quản trị và phát triển đất nước vẫn còn giá trị tham khảo đến ngày nay.

Trong lĩnh vực giáo dục, ông luôn đề cao vai trò của việc học. Theo ông, học không chỉ để thi cử hay làm quan mà còn để mở mang trí tuệ, hoàn thiện nhân cách và phụng sự xã hội. Chính bản thân ông là tấm gương tiêu biểu về tinh thần tự học, học rộng, hiểu sâu và không ngừng nghiên cứu.

Các nhà nghiên cứu đánh giá Lê Quý Đôn là nhà bác học có tri thức toàn diện hiếm có trong lịch sử Việt Nam. Ông không chỉ tiếp thu tinh hoa học thuật phương Đông mà còn luôn coi trọng việc khảo sát thực tế, kiểm chứng thông tin trước khi ghi chép. Phương pháp làm việc khoa học ấy góp phần nâng cao giá trị học thuật của các công trình do ông biên soạn.

Sau hơn ba mươi năm hoạt động trong triều đình và miệt mài nghiên cứu, Lê Quý Đôn qua đời năm 1784. Tuy nhiên, những tác phẩm của ông vẫn tiếp tục được lưu giữ, nghiên cứu và tái bản qua nhiều thế hệ.

Ngày nay, tên tuổi Lê Quý Đôn được đặt cho nhiều trường học, đường phố, thư viện và cơ sở giáo dục trên cả nước. Cuộc đời và sự nghiệp của ông trở thành biểu tượng của truyền thống hiếu học, tinh thần nghiên cứu khoa học và trách nhiệm cống hiến cho đất nước. Đối với thế hệ trẻ, đặc biệt là đoàn viên, thanh niên, tấm gương của Lê Quý Đôn nhắc nhở rằng tri thức chỉ thực sự có ý nghĩa khi được vận dụng để phục vụ nhân dân, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ý nghĩa giáo dục

  • Giáo dục truyền thống hiếu học, tự học và học tập suốt đời.

  • Bồi dưỡng ý thức nghiên cứu khoa học, tư duy độc lập và tinh thần sáng tạo.

  • Khẳng định vai trò của hiền tài đối với sự phát triển của quốc gia.

  • Giáo dục trách nhiệm của thế hệ trẻ trong việc gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa và tri thức dân tộc.

  • Góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của các tư liệu lịch sử, đặc biệt là những ghi chép liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam.

  • Nguồn tham khảo chính thống

    • Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình Lịch sử Việt Nam.

  • Viện Sử học, các công trình nghiên cứu về Lê Quý Đôn.

  • Đại Việt sử ký tục biên.

  • Lê Quý Đôn toàn tập, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội.

  • Phủ biên tạp lục, Vân đài loại ngữ, Kiến văn tiểu lục (bản dịch của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội).

  • Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, các ấn phẩm nghiên cứu về danh nhân Việt Nam.

  • Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn
    LÊ QUÝ ĐÔN – NHÀ BÁC HỌC LỚN CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM | Câu chuyện thời hoa lửa